Cập nhật ngày 7 tháng 5:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, giá rare earth carbonate dao động trong khoảng 61.700-62.200 NDT/tấn, giá monazite điều chỉnh về 4,4-4,8 NDT/tấn, giá quặng giàu yttrium trung bình và europium khoảng 248.000-250.000 NDT/tấn. Gần đây, tốc độ lưu thông trên thị trường quặng đất hiếm vẫn ở mức thấp. Nhìn chung, các nhà máy tách chiết có ý muốn mua hàng kém, giao dịch thị trường trì trệ và giá quặng khó có khả năng tăng.
Oxit đất hiếm:
Giá oxit lanthanum có biến động tương đối nhỏ trong tuần này, duy trì ổn định ở mức 5.000-5.800 NDT/tấn. Giá thị trường oxit cerium cũng có xu hướng ổn định gần đây, giữ vững ở mức 14.000-14.800 NDT/tấn trong tuần. Thị trường oxit Pr-Nd có bầu không khí giao dịch kém gần đây. Trước và sau kỳ nghỉ lễ, các nhà máy kim loại hạ nguồn có mức độ quan tâm hỏi giá và mua sắm thấp. Tuy nhiên, các nhà cung cấp thượng nguồn duy trì báo giá vững chắc trong bối cảnh nguồn cung oxit Pr-Nd giao ngay khan hiếm, và các nguồn hàng giá thấp vẫn khó tìm. Nhìn chung, biến động giá oxit Pr-Nd tương đối nhỏ. Tính đến hôm nay, giá oxit Pr-Nd điều chỉnh giảm nhẹ về 762.000-768.000 NDT/tấn. Về phía đất hiếm trung-nặng, nhu cầu thị trường oxit dysprosium vẫn yếu, nhưng do chi phí tồn kho cao và giá oxit dysprosium đã giảm xuống mức tương đối thấp, hầu hết các nhà cung cấp duy trì báo giá vững chắc. Trong tuần này, giá oxit dysprosium giảm nhẹ về 1,35-1,37 triệu NDT/tấn. Hoạt động hỏi giá trên thị trường oxit terbium cũng trì trệ. Các nhà cung cấp duy trì báo giá tương đối ổn định, nhưng việc bán hàng ở mức giá cao gặp khó khăn, giá điều chỉnh nhẹ trong tuần về 6,1-6,12 triệu NDT/tấn. Giá oxit gadolinium giảm đáng kể trong tuần. Các nhà máy kim loại cho biết tình hình đơn hàng vẫn yếu và khó chấp nhận oxit giá cao, giá tiếp tục giảm về 240.000-245.000 NDT/tấn trong tuần. Báo giá thị trường oxit holmium tương đối ổn định, nhưng tình hình hỏi giá của các nhà máy kim loại không có cải thiện, giá giảm nhẹ về khoảng 545.000-550.000 NDT/tấn trong tuần. Các nhà cung cấp oxit erbium cho thấy hoạt động chào giá thấp trong tuần này. Một số nhà cung cấp chào nguồn hàng giá thấp, nhưng giá từ thương nhân vẫn tương đối cao, với giá dao động và điều chỉnh về mức 410.000-430.000 NDT/tấn trong tuần này. Giá thị trường oxit yttrium giảm nhẹ gần đây, các nhà cung cấp tăng cường xuất hàng, giá giảm về mức 60.000-65.000 NDT/tấn trong tuần này.
Kim loại đất hiếm:
Tuần này, giá kim loại cerium vận hành nhìn chung ổn định, duy trì ở mức 35.000-35.500 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd ảm đạm trong tuần này, giảm về mức 930.000-940.000 NDT/tấn. Sau kỳ nghỉ, nhiệt tình hỏi hàng và mua sắm của hạ nguồn thấp, chủ yếu tập trung mua hàng kịp thời ở mức giá thấp. Bầu không khí giao dịch thị trường trầm lắng. Kết hợp với việc giá oxit Pr-Nd giảm, một số nhà cung cấp kim loại hạ giá chào, nhưng giá chào từ nhà máy vẫn tương đối vững, mức giảm thực tế của hợp kim Pr-Nd còn hạn chế. Thị trường đất hiếm trung-nặng, hợp kim dysprosi-sắt đóng cửa ở mức 1,32-1,33 triệu NDT/tấn. Giá tiếp tục giảm tổng thể trong tuần này, chủ yếu do hoạt động hỏi hàng và mua sắm hạ nguồn ít hơn và giá nguyên liệu thô giảm, các nhà cung cấp tiếp tục hạ báo giá. Giá kim loại terbi giảm về mức 7,53-7,57 triệu NDT/tấn. Hoạt động hỏi hàng trên thị trường không cải thiện trong tuần này, cộng với giá nguyên liệu thô giảm, các nhà cung cấp tiếp tục hạ báo giá, nhưng giao dịch thực tế vẫn yếu. Báo giá hợp kim gadolini-sắt tiếp tục giảm, chủ yếu do giá nguyên liệu thô giảm đáng kể. Các doanh nghiệp kim loại tiếp tục hạ báo giá, hoạt động hỏi hàng hạ nguồn vẫn tương đối ít, giá gadolini-sắt điều chỉnh về mức 230.000-235.000 NDT/tấn trong tuần.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) đóng cửa ở mức 242-252 NDT/kg; phôi NdFeB 40M có giá 288-298 NDT/kg; phôi NdFeB 40H có giá 292-302 NDT/kg; phôi NdFeB 45SH (Ce) có giá 342-362 NDT/kg.
Về giá cả, giá NdFeB giảm trong tuần này, chủ yếu do giá oxit và kim loại Pr-Nd - nguyên liệu thô của NdFeB - giảm trong tuần này, kéo giá vật liệu từ tính NdFeB đi xuống. Về giao dịch, hoạt động giao dịch trong tuần này khá trầm lắng. Sau kỳ nghỉ, khách hàng hạ nguồn vẫn còn tồn kho và giai đoạn cao điểm của tháng tới vẫn chưa đến, khiến giao dịch trên thị trường kém sôi động.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB được chào ở mức 760–765 nhân dân tệ/kg; dysprosi tái chế từ phế liệu NdFeB ở mức 1.280–1.300 nhân dân tệ/kg; terbi tái chế từ phế liệu NdFeB ở mức 5.800–6.000 nhân dân tệ/kg.
Nhìn chung, giá phế liệu tuần này biến động tương đối nhỏ, chủ yếu do giá oxit biến động không lớn. Các doanh nghiệp tái chế giảm nhẹ báo giá ký đơn hàng bên ngoài và báo giá thu mua. Cùng với việc giá hợp đồng tương lai oxit Pr-Nd giảm, các nhà cung cấp phế liệu có thái độ thận trọng hơn đối với việc xuất hàng. Đồng thời, quanh kỳ nghỉ, không khí giao dịch trên thị trường trầm lắng, giao dịch thực tế ảm đạm. Nhìn chung, giá phế liệu tuần này biến động tương đối nhỏ. Quanh kỳ nghỉ, không khí giao dịch trên thị trường trầm lắng, nhà cung cấp có tâm lý chờ đợi mạnh, và giao dịch thực tế trên thị trường ảm đạm.



