Ngày 24 tháng 4 năm 2026:
Theo thống kê của SMM, tính đến ngày 24/04/2026, số ngày tồn kho tại nhà máy của các nhà máy thanh nhôm tại Trung Quốc ở mức 9,02 ngày, tăng 0,68 ngày so với trước kỳ nghỉ. Về tỷ lệ tồn kho, tỷ lệ tồn kho tại nhà máy của các nhà máy thanh nhôm Trung Quốc là 97,22%.
Trong tuần, giá nhôm đi ngang và duy trì ở mức thấp, trong khi phí gia công thanh nhôm giữ ổn định. Theo khu vực, tính đến ngày 24/04/2026, phí gia công thanh nhôm tập trung ở mức 350-450 NDT/tấn tại Giang Tô, 250-350 NDT/tấn tại Hà Bắc, và 350-450 NDT/tấn tại miền Nam Trung Quốc. Đối với các khu vực khác, phí gia công thanh nhôm ở mức 150-250 NDT/tấn tại Sơn Đông, 150-250 NDT/tấn tại Nội Mông, và 250-350 NDT/tấn tại Hà Nam. Gần đây, tồn kho thanh nhôm có xu hướng tích lũy dần, chủ yếu do giá nhôm tiếp tục dao động ở mức cao, tâm lý chờ đợi của hạ nguồn mạnh, nhu cầu mua hàng yếu, và công suất thị trường dồi dào, dẫn đến cạnh tranh phí gia công tiếp tục ở mức thấp.
Tuần này, tỷ lệ vận hành hàng tuần của ngành dây và cáp nhôm tại Trung Quốc tăng lên 67,6%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với tuần trước. Sau đợt tăng mạnh nhu cầu lưới điện trước đó, đơn hàng tại các nhà sản xuất dây nhôm Trung Quốc có xu hướng ổn định, các doanh nghiệp hàng đầu duy trì nhịp sản xuất bình thường. Về mặt xuất khẩu, khi chênh lệch giá giữa thị trường ngoài Trung Quốc và nội địa tiếp tục mở rộng, và do dây nhôm bện được hưởng hoàn thuế xuất khẩu 13% với hàm lượng nhôm gần tương đương nhôm thỏi, chi phí xuất khẩu dây nhôm bện và nấu lại thành nhôm thỏi ở nước ngoài thấp hơn so với mua trực tiếp nhôm thỏi ngoài Trung Quốc. Nhờ chênh lệch lợi nhuận, các nhà máy tại Hà Bắc nhận được đơn hàng mới, kỳ vọng kế hoạch sản xuất phục hồi đáng kể. Do đó, trong bối cảnh đơn hàng xuất khẩu tăng mạnh, tỷ lệ sử dụng công suất trong ngành dự kiến tiếp tục phục hồi, với tỷ lệ vận hành tại các nhà máy duy trì ở mức cao.
![Tổng hợp đầy đủ dữ liệu xuất nhập khẩu tháng 3/2026 của SMM [Dữ liệu SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/EFLYr20251217171714.jpeg)


