Bình luận sáng về Alumina của SMM ngày 20/4
Hợp đồng tương lai:
Thứ Sáu tuần trước trong phiên giao dịch đêm, hợp đồng tương lai alumina giao dịch nhiều nhất 2609 mở cửa ở mức 2.762 nhân dân tệ/tấn, đạt mức cao 2.777 nhân dân tệ/tấn và mức thấp 2.748 nhân dân tệ/tấn, đóng cửa ở mức 2.750 nhân dân tệ/tấn, tăng 84 nhân dân tệ/tấn so với ngày trước đó. Khối lượng hợp đồng mở tăng 134.000 lô lên 274.000 lô, với cuộc giằng co giữa phe mua và phe bán tiếp diễn. Về mặt kỹ thuật, giá đóng cửa nằm dưới MA5 (2.780,4), MA10 (2.790,50) và MA30 (2.938,23), cho thấy áp lực kháng cự phía trên nhất định đối với xu hướng tăng. Trong khi đó, chỉ báo MACD DEA (-28,37) cắt lên trên DIF (-54,32), với "giao cắt chết tiếp diễn" và histogram ở mức -31,91. Hợp đồng tương lai alumina dự kiến sẽ trầm lắng trong ngắn hạn, cần chú ý đến tác động địa chính trị, kế hoạch đưa vào vận hành công suất mới và biến động tồn kho.
Quặng:Tính đến ngày 15/4/2026, chỉ số quặng bauxite nhập khẩu của SMM ở mức 68,99 USD/tấn, tăng 0,04 USD/tấn so với ngày giao dịch trước. Giá FOB trung bình quặng Guinea của SMM ở mức 38,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CIF trung bình quặng bauxite Guinea của SMM ở mức 69 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CIF trung bình quặng bauxite nhiệt độ thấp Australia của SMM ở mức 61,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CIF trung bình quặng bauxite nhiệt độ cao Australia của SMM ở mức 56,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CIF trung bình quặng bauxite Malaysia ở mức 52 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CIF trung bình quặng bauxite Malaysia (đã rửa) ở mức 63 USD/tấn, tăng 0,5 USD/tấn so với ngày giao dịch trước. Giá CIF quặng bauxite Ghana ở mức 78 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Giá CFR quặng bauxite (Thổ Nhĩ Kỳ) ở mức 81,5 USD/tấn, tăng 3 USD/tấn so với thứ Sáu tuần trước. Nhìn chung, nguồn cung quặng trong nước vẫn tương đối đủ và giá quặng cơ bản ổn định. Đối với quặng nhập khẩu, trong bối cảnh biến động cước vận tải biển, một số mỏ kiểm soát lượng xuất hàng, tạo hỗ trợ nhất định cho giá quặng. Tuy nhiên, tồn kho tại các nhà máy luyện alumina ở Trung Quốc vẫn ở mức cao (khoảng 92 ngày), và các nhà máy luyện alumina thể hiện ý muốn mua yếu, với việc đàm phán giá giữa bên mua và bên bán vẫn tiếp diễn. Giá quặng dự kiến biến động ở mức cao trong ngắn hạn, thị trường cần chú ý đến việc triển khai chính sách "hệ thống hạn ngạch" của Guinea và xu hướng cước vận tải biển.
Giá giao ngay:Tính đến ngày 16 tháng 4 năm 2025, chỉ số alumina SMM ở mức 2.680,25 nhân dân tệ/tấn, giảm 13,32 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chỉ số alumina SMM Sơn Đông ở mức 2.650,82 nhân dân tệ/tấn, giảm 14,71 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chỉ số alumina SMM Hà Nam ở mức 2.691,88 nhân dân tệ/tấn, giảm 16,96 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chỉ số alumina SMM Sơn Tây ở mức 2.685,65 nhân dân tệ/tấn, giảm 26,21 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chỉ số alumina SMM Quý Châu ở mức 2.726,82 nhân dân tệ/tấn, giảm 13,4 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chỉ số alumina SMM Quảng Tây ở mức 2.665,39 nhân dân tệ/tấn, giảm 13,88 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước.
Báo cáo chênh lệch giá giao ngay - kỳ hạn hàng ngày:Theo dữ liệu SMM, ngày 16 tháng 4, chỉ số alumina SMM có mức premium 13,25 nhân dân tệ/tấn so với hợp đồng giao dịch nhiều nhất dựa trên giá giao dịch mới nhất lúc 11:30 sáng.
Báo cáo chứng quyền kho hàng hàng ngày:Ngày 16 tháng 4, tổng chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tăng 4.799 tấn so với ngày giao dịch trước, đạt 478.900 tấn. Chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tại Sơn Đông không đổi so với ngày giao dịch trước ở mức 58.375 tấn. Chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tại Hà Nam tăng 4.795 tấn so với ngày giao dịch trước, đạt 36.322 tấn. Chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tại Quảng Tây tăng 4 tấn so với ngày giao dịch trước, đạt 17.434 tấn. Chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tại Cam Túc không đổi so với ngày giao dịch trước ở mức 49.847 tấn. Chứng quyền kho hàng alumina đã đăng ký tại Tân Cương không đổi so với ngày giao dịch trước ở mức 310.900 tấn.
Thị trường ngoài Trung Quốc:Tính đến ngày 16 tháng 4 năm 2026, giá alumina FOB Tây Úc ở mức 306 USD/tấn, cước vận tải biển ở mức 30,05 USD/tấn, tỷ giá bán USD/CNY khoảng 6,84. Quy đổi ra giá bán tại các cảng lớn trong nước khoảng 2.678,42 nhân dân tệ/tấn, thấp hơn 1,83 nhân dân tệ/tấn so với giá chỉ số alumina. Theo mô hình SMM, cửa sổ nhập khẩu vẫn mở.
Tóm tắt:
Phía cung, tỷ lệ vận hành ngành tăng nhẹ trong tuần này, chủ yếu do việc khôi phục sản xuất sau nâng cấp dây chuyền tại Sơn Tây và tiếp tục đẩy mạnh công suất mới tại Quảng Tây. Về phía cầu, hoạt động nhôm nhìn chung duy trì ổn định, nhu cầu giữ vững. Tồn kho trong nước tiếp tục xu hướng tích trữ trong tuần này, tổng tồn kho tăng 48.000 tấn so với tuần trước. Nhìn chung, thị trường alumina vẫn đang trong chu kỳ tích trữ tồn kho, chủ yếu do nguồn cung tiếp tục được giải phóng kết hợp với lượng hàng về cảng và đăng ký chứng nhận kho tăng lên. Nhìn về tuần tới, khi công suất mới tại Quảng Tây tiếp tục được giải phóng, nguồn cung dự kiến duy trì tăng trưởng, tồn kho có khả năng tiếp tục tích lũy và giá dự kiến vẫn chịu áp lực.
[Dữ liệu ngoài thông tin công khai được lấy từ nguồn công khai, giao tiếp thị trường và mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, được SMM xử lý chỉ mang tính tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.]



