Cập nhật ngày 2 tháng 4:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, giá cacbonat đất hiếm dao động trong khoảng 61.100-61.600 NDT/tấn, giá quặng monazit được điều chỉnh về mức 4,8-5,3 NDT/tấn, giá quặng giàu yttri trung bình và europi dao động quanh mức 247.000-249.000 NDT/tấn. Gần đây, tốc độ lưu thông quặng đất hiếm duy trì ở mức thấp, bầu không khí giao dịch thị trường nhìn chung ảm đạm, một số sản phẩm quặng đất hiếm ở trạng thái có giá chào nhưng không có giao dịch thực tế.
Oxit đất hiếm:
Giá oxit lantan tuần này nhìn chung vẫn tăng nhẹ, được điều chỉnh về mức 5.100-5.700 NDT/tấn. Giá thị trường oxit xeri gần đây biến động tương đối ít, duy trì ổn định ở mức 14.000-14.500 NDT/tấn trong tuần. Giá thị trường oxit Pr-Nd nhìn chung tiếp tục tăng, được thúc đẩy bởi biến động giá hợp đồng tương lai, yếu tố tin tức đầu cơ và tác động từ việc một số doanh nghiệp phân tách thượng nguồn ngừng sản xuất. Nhà cung cấp liên tục nâng giá chào, nguồn hàng giá thấp thắt chặt nhanh chóng, giá oxit Pr-Nd tăng lên 755.000-760.000 NDT/tấn trong tuần. Về phía đất hiếm trung-nặng, hoạt động hỏi giá oxit dysprosi trên thị trường vẫn ảm đạm, nhà cung cấp thượng nguồn giữ vững giá chào, oxit dysprosi được chào giá điều chỉnh nhẹ ở mức 1,36-1,38 triệu NDT/tấn trong tuần này. Hoạt động giao dịch oxit terbi trên thị trường tuần này vẫn ở mức thấp, giá chào của nhà cung cấp trì trệ và ổn định, giá vẫn giữ vững ở mức 6,06-6,1 triệu NDT/tấn trong tuần. Thị trường oxit gadolini, chịu ảnh hưởng từ yếu tố tin tức kết hợp với việc các nhà sản xuất lớn tăng cường thu mua, hoạt động hỏi giá hạ nguồn tăng đáng kể, giá chào được nâng nhanh lên mức 230.000-235.000 NDT/tấn trong tuần. Giá chào oxit holmi trên thị trường tuần này ngừng giảm, nhưng giao dịch thị trường vẫn kém, giá được điều chỉnh nhẹ về khoảng 538.000-545.000 NDT/tấn. Giá chào oxit erbi của nhà cung cấp vẫn giữ vững, nguồn hàng giá thấp khó tìm, giá được điều chỉnh nhẹ lên 400.000-405.000 NDT/tấn tuần này. Hoạt động thu mua oxit yttri trên thị trường giảm nhẹ, một số nhà cung cấp hạ nhẹ giá chào, giá được điều chỉnh nhẹ về mức 67.000-73.000 NDT/tấn.
Kim loại đất hiếm:
Tuần này, giá kim loại cerium nhìn chung ổn định, duy trì ở mức 34.500-35.000 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd tuần này có xu hướng tăng trước rồi giảm sau, nhưng xu hướng chung vẫn là tăng, giá điều chỉnh lên 915.000-925.000 NDT/tấn. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên liệu hỗ trợ. Trong dịp Tết Thanh Minh, đơn hàng từ các doanh nghiệp vật liệu từ tính cải thiện, nhu cầu mua sắm hợp kim Pr-Nd tăng. Tâm lý lạc quan mạnh mẽ trên thị trường, kết hợp với giá nguyên liệu tăng, khiến các doanh nghiệp kim loại nâng báo giá tương ứng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vật liệu từ tính hạ nguồn chấp nhận hạn chế đối với kim loại giá cao, khiến giao dịch hợp kim Pr-Nd giá cao bị cản trở và giá quay đầu giảm, thị trường rơi vào thế giằng co giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Về phía thị trường đất hiếm trung-nặng, hợp kim dysprosi-sắt đóng cửa ở mức 1,33-1,35 triệu NDT/tấn. Giá nhìn chung ảm đạm trong tuần này. Mặc dù giá được đẩy lên vào thứ Sáu tuần trước do tin tức thị trường, hoạt động hỏi giá trên thị trường tuần này vẫn trầm lắng, và các nhà cung cấp hạ báo giá. Giá kim loại terbi duy trì ổn định ở mức 7,55-7,6 triệu NDT/tấn. Hoạt động hỏi giá trên thị trường tuần này tiếp tục trầm lắng, báo giá của nhà cung cấp không có biến động đáng kể. Hoạt động giao dịch thị trường bình thường, biến động giá tổng thể tương đối nhỏ. Giá hợp kim gadolini-sắt trải qua giai đoạn tăng rồi giảm, chủ yếu do hoạt động mua hàng hạ nguồn giảm. Kết hợp với điều chỉnh giá nguyên liệu, một số nhà cung cấp chủ động giảm giá để đẩy hàng, khiến giá hợp kim gadolini-sắt giảm xuống 222.000-228.000 NDT/tấn.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) đóng cửa ở mức 236-246 NDT/kg; phôi NdFeB 40M đóng cửa ở mức 282-292 NDT/kg; phôi NdFeB 40H đóng cửa ở mức 286-296 NDT/kg; phôi NdFeB 45SH (Ce) đóng cửa ở mức 336-356 NDT/kg.
Về giá cả, giá NdFeB tuần này được nâng nhẹ. Nguyên nhân cốt lõi là giá oxit Pr-Nd và kim loại - nguyên liệu thô của NdFeB - tuần này được nâng nhẹ, đẩy báo giá NdFeB ra bên ngoài tăng lên. Về giao dịch thực tế, giá giao dịch NdFeB trên thị trường ở các cấp độ khác nhau hiện tạm thời ổn định, ngoại trừ một vài nhà sản xuất cá biệt, chênh lệch giá giữa các báo giá trên thị trường tương đối nhỏ. Về giao dịch, hoạt động giao dịch tuần này ở mức trung bình. Một mặt, khi giá nguyên liệu tăng, người mua hạ nguồn khó chấp nhận nguyên liệu giá cao nên chọn tạm thời tiêu thụ hàng tồn kho để đối phó với giá nguyên liệu tăng. Mặt khác, sau đợt bổ sung hàng cứng nhắc từ phía nhu cầu tuần trước, tốc độ giải phóng đơn hàng chậm lại đáng kể, hoạt động mua hàng bị tạm dừng trong tuần này.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 740-750 nhân dân tệ/kg; Dy tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 1.280-1.320 nhân dân tệ/kg; Tb tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 5.800-6.000 nhân dân tệ/kg.
Tuần này, giá phế liệu vận hành ổn định nhìn chung, chủ yếu do hoạt động giao dịch trên thị trường oxit trầm lắng, các doanh nghiệp tái chế ít biến động trong báo giá ký đơn hàng bên ngoài. Giá oxit Pr-Nd tuần này nhìn chung thể hiện xu hướng tăng trước rồi giảm sau. Do hoạt động giao dịch trên thị trường oxit ở mức trung bình, các doanh nghiệp tái chế có ý muốn mua giá cao tương đối yếu, báo giá mua ký đơn hàng bên ngoài khá thận trọng. Đồng thời, khi các doanh nghiệp vật liệu từ tính hoạt động trở lại bình thường, nguồn cung phế liệu có thuế được cải thiện phần nào, giảm bớt khó khăn trong thu mua cho các doanh nghiệp tái chế. Tuy nhiên, các nhà cung cấp phế liệu có ý muốn bán giá thấp tương đối yếu, dẫn đến giá phế liệu Pr-Nd không biến động đáng kể mặc dù giá oxit Pr-Nd đã điều chỉnh giảm.
![Các dự án đất hiếm ngoài Trung Quốc tiến triển mạnh mẽ, giá Pr-Nd tăng do nguồn cung thắt chặt [SMM Bản tin đất hiếm ngoài Trung Quốc hàng tuần]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/PVQnj20251217171744.jpg)


