4.7 Bình luận buổi sáng của SMM về hợp kim nhôm đúc
Hợp đồng tương lai: Qua đêm, hợp đồng hợp kim nhôm đúc ad2606 giao dịch nhiều nhất đóng cửa ở mức 23.585 NDT/tấn, giảm 40 NDT/tấn so với giá đóng cửa của ngày giao dịch trước, tương đương giảm 0,17%. Phiên đêm hình thành nến giảm nhỏ, thân nến cực hẹp với bóng trên và bóng dưới ngắn, là mô hình nến đi ngang vùng giá cao điển hình, chưa đưa ra tín hiệu định hướng rõ ràng. Giá trị VR hiện tại là 89,74, nằm trong vùng mạnh 80-150, cho thấy mức độ sôi động chung của thị trường vẫn được duy trì, nhưng đã giảm mạnh so với vùng quá mua trước đó trên 200. Khối lượng giao dịch phân kỳ với giá, động lực tăng không đủ.
Chênh lệch giá giao ngay - kỳ hạn hàng ngày: Theo dữ liệu SMM, ngày 3/4, mức premium lý thuyết của giá giao ngay SMM ADC12 so với giá đóng cửa lúc 10:15 của hợp đồng hợp kim nhôm đúc giao dịch nhiều nhất (AD2606) là 950 NDT/tấn.
Chứng từ hàng ngày: Dữ liệu SHFE cho thấy, ngày 3/4, tổng khối lượng đăng ký chứng từ hợp kim nhôm đúc là 31.636 tấn, giảm 1.087 tấn so với ngày giao dịch trước. Trong đó, Thượng Hải đạt 1.942 tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; Quảng Đông đạt 12.479 tấn, giảm 1.087 tấn; Giang Tô đạt 3.632 tấn, tăng 301 tấn; Chiết Giang đạt 8.743 tấn, giảm 301 tấn; Trùng Khánh đạt 3.634 tấn, không đổi; và Tứ Xuyên đạt 1.206 tấn, không đổi.
Phế nhôm: Thứ Sáu tuần trước, giá nhôm nguyên sinh giao ngay giảm 120 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước, và thị trường phế nhôm nhìn chung cũng đi xuống và điều chỉnh. Về chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế nhôm, ngày 3/4, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế đùn nhôm hỗn hợp không sơn tại Phật Sơn là 3.155 NDT/tấn, còn chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế nhôm tense nghiền nhỏ là 1.865 NDT/tấn. Dự kiến thị trường phế nhôm tuần này sẽ tiếp tục duy trì nhịp độ tích lũy ở vùng cao, với biên độ chủ đạo của phế nhôm tense nghiền nhỏ (định giá theo hàm lượng nhôm) dao động quanh 19.800-20.500 NDT/tấn (chưa thuế). Trong ngắn hạn, vẫn cần theo dõi sát tác động của xung đột địa chính trị đối với biến động giá nhôm nguyên sinh, sự phục hồi thực tế của đơn hàng đầu cuối, cũng như tiến độ triển khai thực tế của các chính sách phía cung, đồng thời cảnh giác với rủi ro giá biến động mạnh
Silic kim loại: Ngày 3/4, giá #553 không thổi oxy tại Hoa Đông của SMM không đổi so với ngày trước; #553 thổi oxy không đổi; #521 không đổi; #441 không đổi; #421 không đổi; #421 dùng cho silicone không đổi; và #3303 không đổi. Giá silic tại Côn Minh, Thiên Tân, Tây Bắc, Tứ Xuyên, Thượng Hải, Tân Cương và cảng Hoàng Phố duy trì ổn định.
Tóm tắt: Về thị trường giao ngay, thị trường ADC12 tiếp tục dao động giảm. Chịu ảnh hưởng từ đà giảm mở rộng của giá nhôm, tâm lý thị trường trở nên thận trọng, đa số doanh nghiệp hạ giá chào; một số ít giữ giá ổn định và đứng ngoài quan sát nhờ được hỗ trợ bởi chi phí. Trước kỳ nghỉ Tết Thanh Minh, nhu cầu tích trữ hàng của hạ nguồn thấp hơn kỳ vọng, hoạt động mua vào vẫn chủ yếu theo nhu cầu thiết yếu, và tình hình giao dịch không có cải thiện rõ rệt. Cùng với kỳ vọng thị trường rằng nhu cầu trong tháng 4 sẽ suy yếu, giá ADC12 trong ngắn hạn vẫn chịu một phần áp lực giảm, và thị trường tiếp tục trầm lắng.
[Tuyên bố nguồn dữ liệu: Ngoài thông tin công khai, toàn bộ dữ liệu khác đều do SMM xử lý và suy diễn dựa trên thông tin công khai, trao đổi thị trường và các mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, chỉ mang tính tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.]



