[Phân tích SMM] Ngành luyện đồng đối mặt với phép thử TC khắc nghiệt, khi axit sulfuric và địa chính trị trở thành những biến số then chốt

Đã xuất bản: Mar 30, 2026 12:20

Kể từ đầu năm nay, thị trường phí gia công giao ngay đối với tinh quặng đồng đã cho thấy xu hướng giảm sâu nghiêm trọng và chưa từng có. Chỉ số giao ngay tinh quặng đồng SMM đã giảm từ -45 USD/tấn khô đầu năm xuống gần -70 USD/tấn khô, với tốc độ và biên độ giảm hiếm thấy trong lịch sử. Phí gia công âm có nghĩa là khi các nhà máy luyện mua tinh quặng đồng, họ không những không nhận được khoản thu nhập gia công truyền thống từ phía mỏ mà ngược lại còn phải trả tiền cho bên bán. Theo mức TC hiện tại là -70 USD/tấn khô, chi phí thực tế mà các nhà máy luyện phải trả cho bên bán trong quá trình luyện đồng tương đương TC 70 USD, hoặc quy đổi thêm thành TC+RC khoảng 112 USD. Tín hiệu giá cực đoan này đã nhanh chóng thu hút sự chú ý lớn của thị trường đối với khả năng sinh lời của các nhà máy luyện, thậm chí làm dấy lên lo ngại về tính bền vững của hoạt động sản xuất luyện đồng trong nước.

Mặc dù phí gia công đã giảm xuống mức thấp kỷ lục, sản lượng đồng cathode của các nhà máy luyện Trung Quốc vẫn duy trì ở mức cao, hiện khoảng 1,2 triệu tấn mỗi tháng. Hiện tượng “càng sản xuất càng lỗ” này bề ngoài dường như trái với logic thị trường, nhưng thực chất phản ánh lựa chọn bị động của các nhà máy luyện cùng các yếu tố hỗ trợ mang tính cơ cấu trong môi trường phức tạp hiện nay. Xét về lịch sử, các kịch bản phí gia công cực đoan không phải chưa từng xảy ra. Trong các giai đoạn suy thoái trước đây của ngành, các nhà máy luyện thường dựa vào một hoặc một số yếu tố như biến động tỷ giá, giá axit sulfuric tăng hoặc chính phí gia công để miễn cưỡng duy trì cân bằng dòng tiền. Trong chu kỳ hiện tại, đà tăng mạnh của giá axit sulfuric đã trở thành biến số then chốt hỗ trợ sự tồn tại của các nhà máy luyện.

Hiện nay, giá xuất xưởng axit của các nhà máy luyện đồng trong nước nhìn chung dao động từ 800 đến 1.600 nhân dân tệ/tấn. Chỉ số axit luyện đồng SMM mới nhất ở mức 1.235,5 nhân dân tệ/tấn. Là sản phẩm phụ quan trọng của quá trình luyện đồng, biến động giá axit sulfuric ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập tổng hợp của các nhà máy luyện. Thông thường, các nhà máy luyện sản xuất khoảng 1 tấn axit sulfuric cho mỗi tấn khô tinh quặng đồng được xử lý. Dựa trên mức giá axit sulfuric hiện tại là 1.235,5 nhân dân tệ/tấn, sau khi khấu trừ thuế giá trị gia tăng (thuế suất 13%) và quy đổi sang USD (theo tỷ giá 6,9), mỗi tấn axit sulfuric có thể mang lại khoảng 158 USD doanh thu cho nhà máy luyện, tương đương tăng thêm 158 USD cho mỗi tấn khô tinh quặng đồng. Nếu tiếp tục quy đổi sang chỉ tiêu TC+RC, con số này tương đương khoảng 99 USD. Vì vậy, đà tăng của giá axit sulfuric đã bù đắp đáng kể áp lực thua lỗ do phí gia công tinh quặng đồng âm gây ra, thậm chí một số nhà máy luyện có hiệu quả cao hơn còn đạt được lợi nhuận cận biên. Chính vai trò “bộ ổn định” này của axit sulfuric đã cho phép các nhà máy luyện duy trì tỷ lệ vận hành cao trong điều kiện phí gia công cực đoan.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ của axit sulfuric đối với lợi nhuận luyện kim không phải là vô hạn, bởi xu hướng giá của mặt hàng này bản thân cũng chịu ảnh hưởng từ các yếu tố địa chính trị quốc tế phức tạp hơn. Việc tình hình Trung Đông gần đây leo thang mạnh đã mang lại bất định lớn cho chuỗi cung ứng lưu huỳnh và axit sulfuric toàn cầu. Kể từ cuộc không kích quân sự chung của Mỹ và Israel nhằm vào Iran ngày 28 tháng 2 năm 2026, eo biển Hormuz, tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới, đã nhanh chóng rơi vào khủng hoảng lưu thông nghiêm trọng. Sau khi nhậm chức, Lãnh tụ Tối cao mới của Iran, Mojtaba Khamenei, lập tức tuyên bố eo biển này sẽ tiếp tục bị đóng như một đòn bẩy chiến lược chống lại liên minh Mỹ - Israel, đồng thời ám chỉ các nước láng giềng nên đóng cửa các căn cứ quân sự của Mỹ. Sau đó, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo tuyên bố rõ ràng cấm mọi tàu thuyền có liên quan đến Mỹ hoặc Israel đi qua eo biển Hormuz, đồng thời cảnh báo sẽ có hậu quả nghiêm trọng đối với các trường hợp đi qua khi chưa được phép.

Eo biển Hormuz là điểm nghẽn then chốt đối với vận chuyển lưu huỳnh toàn cầu. Thống kê cho thấy trước xung đột, mỗi ngày có hơn 100 tàu đi qua eo biển này. Tuy nhiên, sau khi xung đột bùng phát, lưu lượng quá cảnh đã lao dốc hơn 90%, thậm chí có những ngày cực đoan không có tàu nào đi qua, khiến hơn 3.000 tàu bị mắc kẹt tại các vùng biển lân cận. Việc phong tỏa trên thực tế này không chỉ tác động trực tiếp đến thị trường dầu thô — với giá dầu Brent kỳ hạn tăng hơn 50% chỉ trong một tháng lên vượt 114 USD/thùng — mà còn làm gián đoạn nghiêm trọng chuỗi cung ứng lưu huỳnh và axit sulfuric toàn cầu. Rủi ro chiến sự đã khiến chi phí bảo hiểm hàng hải tăng vọt lên hơn 20% giá trị hàng hóa, tiếp tục đẩy chi phí logistics tăng cao và đẩy nguồn cung lưu huỳnh toàn cầu vào khủng hoảng vận chuyển.

Mặc dù Iran tuyên bố cho phép tàu thuyền từ các quốc gia “không thù địch” đi qua với điều kiện phải xin phép trước, khối lượng vận chuyển thực tế vẫn ở mức cực thấp, thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu thương mại toàn cầu. Đồng thời, lực lượng vũ trang Houthi tại Yemen cũng tuyên bố tham gia, tạo ra mối đe dọa an ninh mới đối với tuyến Biển Đỏ - Suez. Áp lực chồng chất lên hai điểm nghẽn hàng hải lớn là eo biển Hormuz và Biển Đỏ đang đặt ra thách thức mang tính hệ thống đối với chuỗi cung ứng toàn cầu về năng lượng và nguyên liệu hóa chất. Là nguyên liệu đầu vào chủ yếu để sản xuất axit sulfuric, sự gián đoạn nguồn cung lưu huỳnh trực tiếp đẩy giá axit sulfuric quốc tế và trong nước tăng dần lên cao. Xét theo tình hình hiện tại, xung đột địa chính trị chưa cho thấy dấu hiệu hạ nhiệt trong ngắn hạn, hàm ý giá axit sulfuric vẫn còn dư địa tăng thêm.

Việc giá axit sulfuric tiếp tục tăng sẽ tạo ra tác động hai mặt đối với ngành luyện đồng trong nước. Một mặt, doanh thu từ axit sulfuric tăng sẽ tiếp tục bổ sung lợi nhuận quan trọng cho các nhà máy luyện, giúp họ duy trì sản xuất ngay cả khi TC thấp hơn và thậm chí có thể tiếp tục kéo phí gia công giao ngay của tinh quặng đồng xuống thấp hơn nữa. Mặt khác, đợt tăng giá axit sulfuric do xung đột địa chính trị thúc đẩy này cũng khiến khả năng sinh lời của các nhà máy luyện phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên ngoài bất ổn, làm cho khả năng chống chịu rủi ro tổng thể của ngành ngày càng mong manh.

Đáng chú ý, môi trường phí gia công cực đoan đã bắt đầu tạo ra tác động thực chất đến bố cục công suất luyện đồng toàn cầu. Mitsubishi Materials của Nhật Bản gần đây đã công bố kế hoạch ngừng hoạt động nhà máy luyện đồng Onahama vào cuối tháng 3 năm 2027. Nhà máy này có công suất đồng thô và đồng tinh luyện là 230.000 tấn, và nguyên nhân chính của việc đóng cửa chính là cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành luyện đồng toàn cầu, dẫn đến TC/RC tinh quặng đồng xấu đi mạnh và triển vọng kinh doanh liên tục chịu áp lực. Quyết định này phát đi tín hiệu rõ ràng: trong bối cảnh phí gia công liên tục dò đáy và lợi nhuận ngành phụ thuộc lớn vào sản phẩm phụ cùng môi trường bên ngoài, một bộ phận công suất luyện có chi phí cao hoặc thiếu năng lực thu hồi tổng hợp đang phải đối mặt với áp lực rút lui khỏi thị trường.

Tóm lại, ngành luyện đồng của Trung Quốc hiện đang ở một điểm nút chu kỳ hết sức bất thường. Một mặt, nhờ hưởng lợi từ giá axit sulfuric cao, các nhà máy luyện tạm thời đã vượt qua tác động của phí gia công âm và duy trì sản lượng cao. Mặt khác, bản thân giá axit sulfuric lại phụ thuộc nặng nề vào tình hình địa chính trị, còn các biến số bên ngoài như việc phong tỏa eo biển Hormuz lại tạo ra bất định lớn đối với tính bền vững của lợi nhuận luyện kim. Nếu căng thẳng tại Trung Đông tiếp diễn, giá axit sulfuric có thể tiếp tục tăng, để lại dư địa cho TC giảm sâu hơn nữa, qua đó có thể nâng cao khả năng chịu đựng của các nhà máy luyện đối với phí gia công cực đoan trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, nếu căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt, chuỗi cung ứng lưu huỳnh phục hồi và giá axit sulfuric rời khỏi vùng đỉnh, các nhà máy luyện sẽ đối mặt với rủi ro “đòn kép” từ cả phí gia công thấp lẫn doanh thu sản phẩm phụ suy giảm, qua đó có thể báo hiệu một giai đoạn cắt giảm công suất thực sự và điều chỉnh sâu của ngành.

Vì vậy, “sức bền” bề ngoài hiện nay của ngành luyện đồng về bản chất được xây dựng trên thế cân bằng mong manh giữa các yếu tố địa chính trị và thị trường sản phẩm phụ. Đối với các bên tham gia thị trường, ngoài việc theo dõi xu hướng TC, cần đặc biệt bám sát diễn biến giá axit sulfuric và các yếu tố địa chính trị nền tảng phía sau để đưa ra đánh giá chính xác hơn về tính bền vững sản xuất và triển vọng lợi nhuận của ngành luyện kim.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
6 giờ trước
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Đọc thêm
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant Resources cho biết quá trình phát triển dự án đồng-vàng Hope & Gorob tại Namibia và Nhà máy Chế biến Kim loại Tsoaxaub liên quan vẫn đang đi đúng tiến độ hiện tại, với quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến được xử lý trong tháng 9 năm 2026. Sau khi hoàn tất các hoạt động chạy thử còn lại, việc xử lý quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến sẽ tạo ra tinh quặng đầu tiên của dự án. Quặng từ hai vụ nổ mìn đầu tiên đã được lưu kho và sẵn sàng vận chuyển đến nhà máy chế biến, trong khi Bezant cho biết khối lượng quặng lưu kho đã vượt dự kiến ban đầu nhờ lượng quặng thu hồi bổ sung được ghi nhận trong Kiểm kê Khoáng sản của công ty. Công tác phát triển đang tiến triển tại cả mỏ và nhà máy chế biến. Việc xây dựng khu lán trại tại mỏ đã hoàn thành khoảng 75%, khoảng 75% cơ sở hạ tầng bề mặt đã được bàn giao và đang được lắp đặt, và toàn bộ đội xe khai thác và vận chuyển của Unitrans hiện đã có mặt tại công trường. Tại nhà máy Tsoaxaub, Bezant đã nhận được Chứng nhận Hoàn thành Kết cấu và Xây dựng C1, xác nhận hoàn thành các công trình kết cấu thép chính và công trình dân dụng, trong khi Chứng nhận Hoàn thành Cơ khí C2 dự kiến hoàn thành trong tháng 9. Hệ thống truyền động điện và thiết bị đo đạc đã hoàn thành khoảng 90%, với máy nghiền côn, thiết bị tuyển nổi, hạ tầng quặng đuôi và các bộ phận chế biến khác đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi chạy thử. Bezant cũng đã đẩy nhanh việc rà soát kế hoạch mở rộng Giai đoạn II, xem xét giá đồng, vàng và bạc hiện tại cũng như dự báo, cùng với khả năng đưa vào các khoáng hóa hàm lượng thấp trước đây từng được coi là không kinh tế. Công ty đang đánh giá chiến lược vận hành với tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn cho máy phân loại quặng, có thể tăng tỷ lệ thu hồi đồng, mặc dù có thể ở cấp hàm lượng tiền tinh quặng thấp hơn. Dựa trên Kiểm kê Khoáng sản hiện tại, Tài nguyên Khoáng sản JORC (2012) hiện có, công suất nhà máy tuyển nổi theo kế hoạch và kịch bản tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn đang được xem xét, ban lãnh đạo tin rằng Hope & Gorob có tiềm năng hỗ trợ tuổi thọ mỏ khoảng 35 năm. Bezant chưa công bố mô hình kinh tế cập nhật bao gồm kịch bản tuổi thọ dài hơn này. Phân tích SMM: Mục tiêu xử lý vào tháng 9 đưa Hope & Gorob tiến gần đến giai đoạn chuyển từ phát triển mỏ sang sản xuất tinh quặng ban đầu, với quặng nguyên khai đã được lưu kho và hạ tầng chế biến chính sắp hoàn thành cơ khí. Tuổi thọ mỏ tiềm năng 35 năm và kế hoạch mở rộng Giai đoạn II vẫn đang trong quá trình rà soát kỹ thuật và kinh tế, và chưa nên được coi là kế hoạch phát triển cập nhật đã được xác nhận. Trong ngắn hạn, mốc quan trọng cần theo dõi sẽ là việc hoàn tất chạy thử nhà máy và xác nhận sản xuất tinh quặng đầu tiên trong tháng 9.
6 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
6 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
Đọc thêm
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] SMM dự kiến tỷ lệ vận hành chung của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc sẽ phục hồi 1,30 điểm phần trăm so với tháng trước lên 44,11% vào tháng 9 năm 2026. Trong đó, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp dự kiến giảm 7,19 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 57,88% do bảo trì tại một số doanh nghiệp và tăng công suất tinh luyện; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp dự kiến phục hồi 4,76 điểm phần trăm so với tháng trước lên 38,48%. (Chỉ tính cực dương đồng không tự sử dụng)
6 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
6 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Đọc thêm
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] Tháng 8/2026, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc theo SMM đạt 42,81%, giảm 1,85 điểm phần trăm so với tháng trước. Xét theo nguyên liệu, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp tăng 1,54 điểm phần trăm so với tháng trước lên 65,07%; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp giảm 3,23 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 33,72% do nguồn cung phế liệu đồng đã bao thuế thắt chặt. (Chỉ tính cực dương đồng không tự tiêu thụ)
6 giờ trước