[Chủ đề nóng SMM] Nhu cầu nội địa suy yếu + chuyển hướng xuất khẩu làm hạ nhiệt “dòng chảy thép từ Bắc vào Nam”

Đã xuất bản: Mar 24, 2026 15:54
Do cung và cầu thép xây dựng chưa hoàn toàn phù hợp giữa các thị trường khác nhau, sự lệch pha cung cầu theo khu vực đã tạo ra khác biệt về giá, từ đó thúc đẩy lưu thông nguồn lực thép giữa các vùng. Khi chênh lệch giá giữa các khu vực ở mức phù hợp, những khu vực dư thừa công suất và sản lượng thép xây dựng thường xuất lượng dư ra ngoài, qua đó tái cân bằng nguồn lực thép xây dựng giữa các vùng.

Do cung và cầu thép xây dựng chưa khớp hoàn toàn giữa các thị trường khác nhau, sự mất cân đối cung - cầu theo khu vực đã tạo ra chênh lệch giá, từ đó thúc đẩy dòng lưu thông nguồn lực thép liên vùng. Khi độ dốc chênh lệch giá giữa các khu vực ở mức phù hợp, những khu vực dư thừa công suất và sản lượng thép xây dựng thường xuất hàng dư thừa ra ngoài, qua đó tái cân bằng nguồn lực thép xây dựng giữa các vùng.

Những năm gần đây, giá thép cây bình quân năm tiếp tục xu hướng giảm, trong khi thế giằng co giữa bên bán và bên mua ngày càng rõ nét. Các mô hình lưu thông nguồn lực thép xây dựng truyền thống như “thép chảy từ Bắc vào Nam” cũng đã điều chỉnh. Hãy cùng nhìn lại những thay đổi mới trong lưu thông nguồn lực thép xây dựng.

1. Lưu thông thép xây dựng liên vùng:
(1) Xuất khẩu thay thế tiêu thụ nội địa, buộc mô hình truyền thống “thép chảy từ Bắc vào Nam” phải lặp lại nâng cấp
Xét theo diễn biến lịch sử, Đông Bắc Trung Quốc, với vai trò là khu vực nguồn chủ lực của thép xây dựng xuất đi, chủ yếu vận chuyển sang miền Bắc, miền Đông và miền Nam Trung Quốc; các dòng chảy nguồn lực này luôn thu hút sự quan tâm lớn của thị trường. So sánh giá tại các thành phố tiêu biểu ở các khu vực khác nhau và tính đến chi phí vận chuyển liên vùng, nguồn lực thép xây dựng ở Đông Bắc Trung Quốc chỉ chảy sang các khu vực khác theo từng giai đoạn. Theo phản hồi khảo sát, từ năm 2025, xuất khẩu phôi thép của Trung Quốc sang Trung Đông, Đông Nam Á và các quốc gia khác tăng mạnh, với lượng xuất khẩu cả năm đạt 14,83 triệu tấn, tăng 134% so với cùng kỳ. Nhiều nhà máy thép đã cắt giảm sản lượng thép xây dựng và trực tiếp sản xuất phôi thép để xuất khẩu. Khi nhu cầu tại khu vực Đông Bắc suy yếu theo mùa, các nhà máy thép địa phương có thêm lựa chọn xuất khẩu phôi thép, ngoài việc tiêu hóa sản lượng thông qua lưu thông nguồn lực liên vùng, khiến lượng nguồn lực chảy từ Bắc xuống Nam giảm rõ rệt.

Cụ thể, giai đoạn 2023 - 2025, chênh lệch giá giữa Thẩm Dương và Hàng Châu, cũng như giữa Thẩm Dương và Bắc Kinh, đã nới rộng phần nào, trong đó mức chênh lệch thể hiện rõ hơn trong quý III và quý IV. Ngược lại, chênh lệch với Quảng Châu tiếp tục thu hẹp, rõ hơn tương đối trong quý I và quý IV. Thép xây dựng từ Thẩm Dương vận chuyển đến Bắc Kinh chủ yếu đi bằng đường sắt, với chi phí vận chuyển tương đối cao. Trong bối cảnh miền Bắc Trung Quốc có nguồn cung thép xây dựng như từ Hà Bắc, nguồn lực từ Đông Bắc chỉ chảy vào miền Bắc theo từng đợt khi chênh lệch giá nới rộng đáng kể. Tại miền Đông Trung Quốc, số lượng công trình xây dựng tương đối nhiều hơn và nhu cầu thị trường cho thấy khả năng chống chịu tốt hơn. Trong quý IV năm 2025, chẳng hạn như tháng 11, khi chênh lệch giá giữa các khu vực nới rộng, một phần nguồn lực thép xây dựng từ Đông Bắc đã được vận chuyển bằng đường biển đến Hàng Châu, Thượng Hải và các nơi khác. Trong khi đó, miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là Quảng Đông, có nhiều nhà máy thép lò điện hồ quang với mức độ linh hoạt sản xuất cao hơn và có thể điều chỉnh kịp thời theo nhu cầu thị trường. Cùng với nhu cầu đầu cuối đối với thép xây dựng suy yếu, giá thị trường khó tạo ra khoảng cách rõ ràng so với giá tại Đông Bắc. Do đó, trong năm 2025, rất ít nguồn lực từ Đông Bắc chảy vào miền Nam Trung Quốc. (2) Chênh lệch giá thép xây dựng nới rộng, “vận chuyển thép từ Tây sang Đông” xuất hiện trong năm 2025
Từ năm 2023 đến 2024, chênh lệch giá thép cây giữa Hàng Châu và Thành Đô không rõ rệt. Xét đến chi phí vận chuyển, nguồn hàng từ Tây Nam Trung Quốc hiếm khi được chuyển đến Hàng Châu, Thượng Hải và các thành phố khác ở miền Đông Trung Quốc. Năm 2025, chênh lệch giá giữa Hàng Châu và Thành Đô nới rộng đáng kể. Một mặt, điều này là do điều chỉnh mức cộng giá đối với quy cách thép cây tại thị trường Thành Đô, khiến giá cơ sở tại Thành Đô duy trì ở mức tương đối thấp (thép cây 18 mm cần cộng thêm 80–150 NDT/tấn so với giá cơ sở). Mặt khác, nhu cầu tại Tây Nam Trung Quốc vẫn yếu, trong khi nhịp độ sản xuất của các nhà máy thép chủ lực không chậm lại đáng kể. Cạnh tranh khu vực gia tăng khiến giá thép cây tại Tây Nam Trung Quốc duy trì ở mức thấp trong thời gian dài. Theo khảo sát, trong quý III năm 2025, nguồn hàng từ các nhà máy thép tại Vân Nam, Tứ Xuyên và các khu vực khác ở Tây Nam Trung Quốc, như Tứ Xuyên Weigang và Chenggang, đã được vận chuyển sang miền Đông Trung Quốc.

2. Lưu thông thép xây dựng theo khu vực:
(1) Hồ Bắc - Hồ Nam - Giang Tây: Nguồn hàng Giang Tây chảy vào thị trường Hồ Bắc và Hồ Nam
Xét theo chênh lệch giá thép cây giữa các thủ phủ tỉnh của Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây, chênh lệch giá giữa Vũ Hán - Nam Xương và Trường Sa - Nam Xương trong năm 2025 là tương đối rõ rệt. Theo khảo sát thị trường, nguồn thép xây dựng từ các nhà sản xuất Giang Tây như Pinggang đã được vận chuyển vào thị trường Hồ Bắc và Hồ Nam.

(2) Sơn Tây - Thiểm Tây - Hà Nam: Nguồn hàng Sơn Tây chảy vào thị trường Thiểm Tây và Hà Nam
Xét theo chênh lệch giá thép cây giữa các thủ phủ tỉnh của Sơn Tây, Thiểm Tây và Hà Nam, chênh lệch giá giữa các thành phố biến động khá thất thường. Tuy nhiên, theo khảo sát thị trường, Sơn Tây có nhiều nhà máy thép xây dựng, trong khi khả năng hấp thụ nhu cầu tại địa phương khá hạn chế. Đồng thời, nhiều nhà máy thép ở gần Hà Nam và Thiểm Tây hơn, nhờ đó có lợi thế về chi phí vận chuyển so với việc giao hàng đến Thái Nguyên, Sơn Tây. Vì vậy, nhiều nguồn hàng từ Sơn Tây, gồm cả Jingang Group, Shanxi Jianlong và Shanxi Jianbang, đã được cung ứng cho thị trường Hà Nam và Thiểm Tây.

(3) Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc: Nguồn hàng Hà Bắc chảy vào Thiên Tân và Bắc Kinh
Xét theo chênh lệch giá thép cây giữa các thành phố trong khu vực Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc, phần lớn thời gian chênh lệch giá giữa Bắc Kinh - Thạch Gia Trang và Thiên Tân - Thạch Gia Trang tương đối ổn định, trong khoảng 0-100 NDT/tấn. Được biết, tại Bắc Kinh và Thiên Tân có rất ít nhà sản xuất thép xây dựng, phần lớn nguồn cung đến từ các nhà máy thép Hà Bắc như Jinggang và Chenggang.

(4) Vân Nam - Quý Châu - Tứ Xuyên - Trùng Khánh: nguồn hàng Vân Nam chảy vào Quý Dương, nguồn hàng Tứ Xuyên và Trùng Khánh có thể luân chuyển cho nhauXét từ góc độ chênh lệch giá thép cây giữa các tỉnh, thành Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên và Trùng Khánh, giữa Quý Dương và Thành Đô tồn tại mức chênh lệch giá nhất định. Nguồn hàng từ Vân Nam như Yukun và Chenggang được cung ứng sang Quý Châu. Chênh lệch giá trong thị trường Tứ Xuyên và Trùng Khánh không rõ rệt, và nguồn hàng lưu thông giữa hai khu vực này tương đối thường xuyên.


3. Nhu cầu nội địa yếu cộng với xuất khẩu phân luồng làm hạ nhiệt lưu thông thép xây dựng liên vùng
Trong thời gian dài, các đợt điều chuyển liên vùng như “vận chuyển từ bắc xuống nam” và “vận chuyển từ tây sang đông” nhìn chung đều đối mặt với các vấn đề như chu kỳ vận chuyển dài, phụ thuộc nhiều vào chênh lệch giá ngắn hạn, cùng nhiều biến số và rủi ro. Trước tình hình đó, các nhà máy thép tại Đông Bắc Trung Quốc ngày càng có xu hướng áp dụng chiến lược phù hợp với điều kiện địa phương và tối ưu hóa cơ cấu sản phẩm, xem xuất khẩu thép dài là một hướng đột phá quan trọng, chủ yếu xuất khẩu phôi thép và bổ sung bằng các sản phẩm tấm như thép dải, qua đó giảm áp lực từ sự lệch pha cung - cầu mang tính mùa vụ của thép xây dựng. Điều này cũng khiến khối lượng dòng chảy tài nguyên liên vùng truyền thống tiếp tục thu hẹp. Nhìn về năm 2026, khi các nhà máy thép Trung Quốc đẩy nhanh mở rộng ra nước ngoài và tiếp tục đào sâu phát triển tại các thị trường nước ngoài như Đông Nam Á và Trung Đông, khối lượng xuất khẩu phôi thép được kỳ vọng vẫn duy trì ở mức cao, còn lượng hàng tham gia vào hoạt động “vận chuyển từ bắc xuống nam” nhiều khả năng sẽ giảm chứ không tăng.
Xét từ góc độ lưu thông nội vùng tại Trung Quốc, về phía cung, các nhà máy thép tại nhiều khu vực về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường xanh, và nếu không xảy ra sự cố bất ngờ thì nhịp độ sản xuất nhìn chung vẫn ổn định; về phía cầu, thị trường vẫn mang đặc trưng suy thoái bất động sản và thiếu sự hỗ trợ từ các dự án hạ tầng quy mô lớn. Phần lớn các tỉnh, thành khó xuất hiện tình trạng mất cân đối cung - cầu rõ rệt, chênh lệch giá giữa các khu vực khó nới rộng, và lưu thông nguồn hàng nội bộ cũng đang cho thấy xu hướng thu hẹp.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
[SMM Thép] Hòa Phát đặt mục tiêu chiếm 38–40% thị phần ống thép sau khi nhà máy mới đi vào hoạt động
24 Apr 2026 18:19
[SMM Thép] Hòa Phát đặt mục tiêu chiếm 38–40% thị phần ống thép sau khi nhà máy mới đi vào hoạt động
Read More
[SMM Thép] Hòa Phát đặt mục tiêu chiếm 38–40% thị phần ống thép sau khi nhà máy mới đi vào hoạt động
[SMM Thép] Hòa Phát đặt mục tiêu chiếm 38–40% thị phần ống thép sau khi nhà máy mới đi vào hoạt động
[SMM Thép] Tập đoàn Hòa Phát đặt mục tiêu nâng thị phần ống thép lên 38–40%, từ mức khoảng 35% hiện tại, sau khi nhà máy Long An (400.000 tấn/năm) đi vào hoạt động, nâng tổng công suất lên 1,2 triệu tấn/năm. Sản lượng ống thép bán ra quý I/2026 tăng 30% so với cùng kỳ, đạt 241.000 tấn, vượt xa mức tăng trưởng chung của ngành (+7%), trong khi thị phần tăng 5 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Công ty dự kiến tập trung vào ống thép đường kính lớn phục vụ các dự án hạ tầng, nhắm đến các phân khúc ít cạnh tranh hơn. Việc mở rộng sẽ phụ thuộc vào nhu cầu xây dựng thực tế, trong khi cạnh tranh ngày càng gay gắt khi các đối thủ như Thép Nam Kim cũng đẩy mạnh tăng công suất.
24 Apr 2026 18:19
[SMM Thép] Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu ròng thép trong năm tài chính 2026, nhưng triển vọng bị phủ bóng bởi rào cản EU và địa chính trị
24 Apr 2026 18:18
[SMM Thép] Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu ròng thép trong năm tài chính 2026, nhưng triển vọng bị phủ bóng bởi rào cản EU và địa chính trị
Read More
[SMM Thép] Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu ròng thép trong năm tài chính 2026, nhưng triển vọng bị phủ bóng bởi rào cản EU và địa chính trị
[SMM Thép] Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu ròng thép trong năm tài chính 2026, nhưng triển vọng bị phủ bóng bởi rào cản EU và địa chính trị
[SMM Thép] Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu ròng thép thành phẩm trong năm tài chính 2025–26, với xuất khẩu tăng 36% so với cùng kỳ năm trước lên 6,6 triệu tấn, vượt nhập khẩu 78.000 tấn. Tăng trưởng được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ từ EU, trong đó châu Âu chiếm tỷ trọng lớn và xuất khẩu sang Việt Nam tăng vọt lên 772.000 tấn. Tuy nhiên, triển vọng vẫn bất định khi hạn ngạch tự vệ của EU sẽ thắt chặt từ tháng 7 và chi phí CBAM tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh. Đồng thời, xung đột Iran đã gây gián đoạn các lô hàng đến GCC và đẩy chi phí vận tải tăng cao, khiến các nhà máy thu hẹp xuất khẩu. Mặc dù vẫn có cơ hội trong xuất khẩu thép cán nguội (CRC) và các thị trường như Việt Nam và Trung Đông, nhưng những cơ hội này bị hạn chế bởi rủi ro chính sách và bất ổn địa chính trị đang diễn ra.
24 Apr 2026 18:18
[SMM Thép] Canada khởi xướng rà soát hoàng hôn chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ bảy quốc gia
24 Apr 2026 18:18
[SMM Thép] Canada khởi xướng rà soát hoàng hôn chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ bảy quốc gia
Read More
[SMM Thép] Canada khởi xướng rà soát hoàng hôn chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ bảy quốc gia
[SMM Thép] Canada khởi xướng rà soát hoàng hôn chống bán phá giá đối với thép cốt bê tông nhập khẩu từ bảy quốc gia
[SMM Thép] Tòa án Thương mại Quốc tế Canada đã khởi xướng rà soát cuối kỳ đối với thuế chống bán phá giá áp dụng lên thép thanh vằn nhập khẩu từ Algeria, Ai Cập, Indonesia, Ý, Malaysia, Singapore và Việt Nam. Cuộc rà soát sẽ đánh giá liệu việc dỡ bỏ các biện pháp hiện hành có thể dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn bán phá giá hay không. Biên độ phá giá trước đó dao động từ 3,3% đến 23,1% (Việt Nam ở mức 10,5%). Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canada dự kiến sẽ đưa ra quyết định cuối cùng vào ngày 17 tháng 9 năm 2026, với báo cáo chi tiết được công bố vào tháng 10.
24 Apr 2026 18:18