3.19 Tóm tắt cuộc họp giao ban sáng của SMM
Hợp đồng tương lai: Trong phiên đêm ngày 18/3, hợp đồng nhôm 2605 trên SHFE mở cửa ở mức 24.800 NDT/tấn, chạm đỉnh trong phiên 24.880 NDT/tấn và đáy 24.575 NDT/tấn, cuối cùng đóng cửa ở mức 24.835 NDT/tấn, tăng 35 NDT/tấn so với giá đóng cửa trước đó, tương đương 0,14%. Về kỹ thuật, các đường MA cho thấy xu hướng ngắn hạn suy yếu nhưng trung hạn vẫn duy trì trạng thái tăng. Các đường trung bình động ngắn hạn, SMA5 (24.882,28) < SMA10 (24.962,47), đã quay đầu đi xuống, và giá đã rơi xuống dưới đường trung bình 5 ngày và 10 ngày, cho thấy động lực tăng ngắn hạn đang suy yếu. Các đường trung bình động trung và dài hạn, SMA20 (24.918,83) > SMA40 (24.689,45) > SMA60 (24.490,96), vẫn mở rộng theo hướng đi lên, và xu hướng tăng trung hạn chưa thay đổi. Trên biểu đồ nến 4 giờ, MACD xuất hiện cột xanh (DIFF: 134,06, DEA: 214,32, STICK: -160,53). Đường DIFF cắt xuống dưới đường DEA hình thành giao cắt tử thần, cho thấy động lực tăng ngắn hạn suy yếu và giá chịu áp lực điều chỉnh. Về vị thế mở, vị thế mở phiên đêm khoảng 304.000 lô, giảm 3.316 lô so với phiên trước. Ngày 18/3, nhôm LME mở cửa ở mức 3.370,0 USD/tấn, chạm đỉnh 3.419,5 USD/tấn và đáy 3.336,0 USD/tấn, đóng cửa ở mức 3.419,5 USD/tấn, tăng 1,63% so với ngày trước đó. Khối lượng giao dịch đạt 35.563 lô, tăng 7.893 lô, trong khi vị thế mở là 676.000 lô, giảm 8.608 lô.
Diễn biến vĩ mô: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã kết thúc cuộc họp chính sách tiền tệ kéo dài hai ngày vào ngày 18 và thông báo giữ nguyên biên độ mục tiêu của lãi suất quỹ liên bang ở mức 3,5% đến 3,75%. Chủ tịch Fed Powell cho biết từ tháng 9 đến tháng 12 năm ngoái, Fed Mỹ đã cắt giảm lãi suất chính sách 0,75 điểm phần trăm, đưa lãi suất trở lại vùng hợp lý trong phạm vi lãi suất trung tính ước tính. (Tiêu cực ★) Nhiệm kỳ Chủ tịch Fed của Powell sẽ kết thúc vào tháng 5 năm nay. Powell cho biết nếu người kế nhiệm chưa được xác nhận vào thời điểm nhiệm kỳ của ông kết thúc, ông sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò "quyền chủ tịch" cho đến khi người kế nhiệm được phê chuẩn chính thức. Kể từ khi nhậm chức vào tháng 1/2025, Tổng thống Mỹ Trump đã nhiều lần gây áp lực buộc Fed cắt giảm lãi suất, chỉ trích các hành động của Chủ tịch Fed Powell là luôn "quá muộn và sai lầm", trong khi Powell nhiều lần khẳng định ông vẫn kiên định bảo vệ tính độc lập của Fed trước ảnh hưởng chính trị. (Trung lập)
Yếu tố cơ bản: Về tồn kho, ngày 18/3, tồn kho nhôm thỏi tại các khu vực tiêu thụ chính tăng 8.500 tấn so với tháng trước, mức tăng chủ yếu đến từ Quảng Đông; tồn kho nhôm LME ở mức 436.600 tấn, giảm 3.700 tấn so với ngày trước đó, tương đương 0,84%; trong tuần qua, tồn kho nhôm LME giảm cộng dồn 13.500 tấn, tương đương 3,00%; trong tháng qua, tồn kho nhôm LME giảm cộng dồn 42.900 tấn, tương đương 8,95%. SMM được biết chào giá điều chỉnh cho quý II/2026 của South32 đối với phí bảo hiểm MJP CIF tại Nhật Bản là 353 USD/tấn.
Thị trường nhôm nguyên sinh:Hợp đồng nhôm 04 trên SHFE giảm trong ngày hôm qua. Chịu tác động từ giá nhôm đi xuống, tâm lý mua vào nhìn chung tăng lên trong ngày hôm qua. Bên bán giữ giá khá vững, báo giá và giá giao dịch chủ đạo trên thị trường hôm qua tập trung quanh mức giá trung bình đến cộng 10 NDT/tấn. Hôm qua, chỉ số tâm lý giao hàng tại miền Đông Trung Quốc là 3,17, tăng 0,05 so với tháng trước; chỉ số tâm lý mua hàng là 3,03, tăng 0,33 so với tháng trước. Khi giá hợp đồng tương lai nhôm SHFE điều chỉnh giảm hôm qua, tâm lý mua tại thị trường miền Trung Trung Quốc tăng mạnh, xu hướng lạc quan rõ rệt và nhu cầu bắt đáy nổi bật. Trong khi đó, nhà cung ứng có xu hướng găm hàng, chuyển sang mua vào ở vùng giá thấp để hưởng chênh lệch. Chỉ một số doanh nghiệp thương mại tham gia cả thị trường giao ngay và kỳ hạn mới bán hàng để chốt lời phần chênh lệch, và nhìn chung tâm lý không muốn bán khá rõ. Báo giá thị trường dao động từ ngang giá khu vực miền Trung Trung Quốc đến cộng 60 NDT/tấn so với giá khu vực này, nhưng giao dịch thực tế cuối cùng chủ yếu tập trung ở mức cộng 30-40 NDT/tấn. Hôm qua, chỉ số tâm lý giao hàng tại thị trường miền Trung Trung Quốc là 2,59, giảm 0,01 so với tháng trước; chỉ số tâm lý mua hàng là 2,42, tăng 0,04 so với tháng trước.
Nguyên liệu nhôm thứ cấp:Hôm qua, giá nhôm nguyên sinh giao ngay giảm 390 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước, và toàn bộ thị trường phế liệu nhôm cũng đi xuống theo. Về chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm, tính đến ngày 18/3, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế nhôm đùn hỗn hợp không sơn tại Phật Sơn là 3.450 NDT/tấn, còn chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế nhôm băm tense là 2.429 NDT/tấn. Mặc dù hiện đang là mùa cao điểm truyền thống, nhưng do đà phục hồi đơn hàng từ người dùng cuối chậm hơn kỳ vọng và giá biến động mạnh, nhịp độ sản xuất tại các bãi phế nhôm trong nước và các doanh nghiệp hạ nguồn sử dụng phế liệu vẫn khá trầm lắng, hoạt động bổ sung nguyên liệu thực tế cũng thấp hơn dự kiến. Về mặt chính sách, các doanh nghiệp nhôm tái sinh vẫn thiếu kỳ vọng rõ ràng đối với quy định triển khai cụ thể của chính sách "xuất hóa đơn ngược", thanh khoản của phế nhôm sẽ tiếp tục thắt chặt. Dự kiến giá phế nhôm trong tuần này vẫn duy trì ở mức cao và khá vững, với giá chào bán chủ đạo của phế nhôm băm căng (định giá theo hàm lượng nhôm) vào khoảng 20.400-21.000 NDT/tấn (chưa gồm thuế). Nhôm nguyên sinh vẫn sẽ là yếu tố dẫn dắt chính dưới tác động của diễn biến địa chính trị, trong khi rủi ro biến động giá đang gia tăng. Về phía cung, lượng hàng được đưa ra thị trường đang được giải phóng ổn định, nhưng sự bất định của chính sách tiếp tục kìm hãm hiệu quả lưu thông. Về phía cầu, tốc độ phục hồi trong mùa cao điểm tương đối chậm, giá cao và biến động mạnh tiếp tục làm suy yếu ý muốn mua hàng. Trong ngắn hạn, cần theo dõi sát xu hướng của nhôm nguyên sinh trong bối cảnh xung đột địa chính trị, sự phục hồi của đơn hàng hạ nguồn và việc thực thi các chính sách tái chế thứ cấp, đồng thời đề phòng rủi ro điều chỉnh mạnh từ vùng giá cao.
Hợp kim nhôm tái sinh:Trên thị trường kỳ hạn, hợp đồng hợp kim nhôm 2604 giao dịch nhiều nhất hôm qua mở cửa phiên sáng ở mức 23.580 NDT/tấn. Sau khi tăng nhẹ lên 23.670 NDT/tấn, giá giảm theo từng nhịp trong bối cảnh các vị thế mua bị cắt giảm, chạm mức thấp nhất trong phiên là 23.380 NDT/tấn. Tính đến hết phiên sáng, giá mới nhất đứng ở mức 23.425 NDT/tấn, giảm 325 NDT/tấn so với giá thanh toán của phiên trước, tương đương giảm 1,37%, và vẫn chịu áp lực trong ngắn hạn. Trên thị trường giao ngay, thị trường ADC12 nhìn chung giảm trong ngày hôm qua, các nhà sản xuất chủ đạo đồng loạt hạ báo giá khoảng 100 NDT/tấn. Đợt điều chỉnh giá này chủ yếu do giá nhôm giảm kéo theo sự suy yếu của lực hỗ trợ từ chi phí. Theo đó, các doanh nghiệp đã điều chỉnh báo giá để phù hợp với biến động thị trường, dù biên độ điều chỉnh tổng thể vẫn tương đối hạn chế, cho thấy tâm lý thị trường vẫn thận trọng. Về phía nhu cầu, các doanh nghiệp hạ nguồn gần đây tương đối nhạy cảm với biến động giá. Dù trong giai đoạn giá giảm đã xuất hiện một mức độ sẵn sàng bổ sung tồn kho nhất định, nhưng nhìn chung hoạt động mua vẫn chủ yếu dựa trên nhu cầu tức thời, chưa thấy giải phóng khối lượng tập trung rõ rệt, và nhu cầu thị trường nhìn chung ở mức trung bình. Trong ngắn hạn, trong bối cảnh giá nhôm yếu, diễn biến nhu cầu trung bình và có hỗ trợ từ chi phí, giá ADC12 được kỳ vọng tiếp tục dao động đi ngang trong biên độ hẹp, với dư địa tăng/giảm tương đối hạn chế.
Tổng kết thị trường nhôm:Hiện tại, rủi ro vĩ mô và địa chính trị trên thị trường nhôm toàn cầu vẫn chưa hạ nhiệt. Tình hình Trung Đông tiếp tục bế tắc, các mối đe dọa đối với hoạt động hàng hải qua Eo biển Hormuz chưa được giải quyết, và các doanh nghiệp nhôm trong khu vực đối mặt với gián đoạn hai chiều đối với nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm. Tính ổn định của chuỗi cung ứng nhôm toàn cầu chịu áp lực, và phần bù rủi ro vẫn duy trì, dù đầu tuần phần bù rủi ro đã thu hẹp phần nào khi tâm lý dịu lại và phe mua chốt lời. Dưới tác động của dữ liệu việc làm và lạm phát của Mỹ mạnh hơn kỳ vọng, kỳ vọng thị trường về việc cắt giảm lãi suất đã bị lùi đáng kể, với “cửa sổ” cắt giảm lãi suất đầu tiên trong năm nay nhiều khả năng bị hoãn sang cuối quý III đến quý IV. Đồng USD mạnh lên, cùng với kỳ vọng thanh khoản thắt chặt hơn, tiếp tục gây áp lực lên định giá hàng hóa. Về cơ bản, kỳ vọng cắt giảm sản lượng nhôm ngoài Trung Quốc vẫn còn, khi châu Âu, Trung Đông và các khu vực khác bị gián đoạn bởi yếu tố năng lượng và logistics, và một phần công suất bước vào chu kỳ bảo dưỡng, do đó logic thu hẹp nguồn cung toàn cầu vẫn được duy trì. Tại Trung Quốc, tỷ lệ vận hành của ngành nhôm duy trì ổn định, mức tăng phía cung hạn chế và tổng cung nhìn chung ổn định. Sau kỳ nghỉ, nhu cầu tại Trung Quốc bước vào quỹ đạo phục hồi dần, tỷ trọng cung ứng trực tiếp nhôm lỏng tăng lên, và tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp gia công hạ nguồn phục hồi theo tháng, với ngành dần trở lại nhịp sản xuất bình thường. Trong đó, nhu cầu từ điện mặt trời (PV), bao bì và lưới điện mạnh, tạo hỗ trợ cốt lõi; mảng đùn nhôm cho xây dựng phục hồi chậm khi tái khởi động thi công, tốc độ phục hồi ở các lĩnh vực truyền thống vẫn tương đối nhẹ, và nhìn chung lực đỡ từ người dùng cuối dần được củng cố. Việc tiếp tục rút tồn kho trên LME đã tạo hỗ trợ đáy cho nhôm LME, nhưng trong bối cảnh thanh khoản vốn thắt chặt hơn và phe mua chốt lời, động lực đi lên không đủ mạnh, cấu trúc Back cũng phần nào suy yếu. Tồn kho xã hội tại Trung Quốc tăng lên mức cao nhất cùng kỳ trong gần 5 năm, chu kỳ tích lũy tồn kho vẫn chưa kết thúc, và lượng tồn kho cao cùng với nền tảng giao ngay yếu đã đồng thời kìm hãm đà tăng. Sự phân hóa giữa các yếu tố chi phối trong nước và nước ngoài tiếp diễn, tỷ giá giá SHFE/LME tiếp tục suy yếu, và giá nhôm SHFE đã rơi xuống dưới ngưỡng then chốt 25.000 nhân dân tệ/tấn, với giao dịch ngắn hạn chủ yếu vẫn chịu áp lực ở vùng giá cao.
[Thông tin được cung cấp chỉ nhằm mục đích tham khảo. Bài viết này không cấu thành lời khuyên trực tiếp cho các quyết định nghiên cứu đầu tư. Khách hàng cần đưa ra quyết định một cách thận trọng và không nên sử dụng nội dung này để thay thế cho phán đoán độc lập của mình. Mọi quyết định do khách hàng đưa ra đều không liên quan đến SMM.]


