Ngày 12 tháng 3:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, giá cacbonat đất hiếm dao động trong khoảng 64.000-64.800 NDT/tấn, giá monazite được điều chỉnh lên 5,9-6,1 NDT/tấn, và quặng giàu yttri trung bình - europi được chào quanh mức 259.000-261.000 NDT/tấn. Gần đây, giá giao dịch thực tế của quặng đất hiếm nhìn chung ở mức thấp, khi các nhà máy tách chiết gây áp lực giảm giá mạnh trong hoạt động thu mua.
Oxit đất hiếm:
Giá oxit lanthanum tuần này tương đối ổn định, duy trì ở mức 5.000-5.200 NDT/tấn, trong khi nguồn cung trên thị trường oxit cerium vẫn khan hiếm, đẩy giá tiếp tục tăng trong tuần lên 13.500-14.000 NDT/tấn. Trên thị trường oxit praseodymium-neodymium, do chịu tác động từ yếu tố tin tức và đà giảm của giá kỳ hạn, các nhà cung cấp thiếu niềm tin vào thị trường giai đoạn sau và chủ động hạ giá để xuất hàng. Tuy nhiên, các nhà máy tách chiết thượng nguồn cho rằng mô hình cung ứng oxit praseodymium-neodymium khan hiếm chưa thay đổi. Vì vậy, sau khi giá oxit praseodymium-neodymium điều chỉnh về 760.000-780.000 NDT/tấn, giá đã phục hồi lên 790.000-800.000 NDT/tấn. Ở phân khúc đất hiếm trung bình - nặng, nhu cầu trên thị trường oxit dysprosium vẫn yếu và giá tiếp tục điều chỉnh giảm, xuống còn 1,45-1,47 triệu NDT/tấn trong tuần. Trên thị trường oxit terbium, các nhà cung cấp cũng tiếp tục hạ giá chào, với mức giá được điều chỉnh trong tuần xuống 6,2-6,25 triệu NDT/tấn. Tâm lý chờ đợi và quan sát của phía hạ nguồn vẫn rất mạnh, hoạt động hỏi giá trên thị trường còn hạn chế. Giá oxit gadolinium cũng tiếp tục giảm theo đà lao dốc nhanh của giá thị trường praseodymium-neodymium, với giá chào của nhà cung cấp lùi về 240.000-245.000 NDT/tấn. Giá chào oxit holmium tuần này tương đối ổn định, chỉ điều chỉnh nhẹ xuống vùng 552.000-560.000 NDT/tấn. Giá chào của nhà cung cấp oxit erbium vẫn ở mức cao, với mặt bằng giá được nâng lên 405.000-410.000 NDT/tấn trong tuần. Giá thị trường oxit yttrium tuần này giảm nhẹ, nhưng hàng giá thấp vẫn khan hiếm, với giá thị trường được điều chỉnh trong tuần về 70.000-73.000 NDT/tấn.
Kim loại đất hiếm:
Giá kim loại cerium tuần này tương đối ổn định, với giá chào giữ ở mức 31.500-32.000 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd biến động mạnh trong tuần. Đầu tuần, dưới tác động của yếu tố tin tức, giá nguyên liệu thô tiếp tục điều chỉnh giảm, cùng với việc một số thương nhân chủ động xả hàng ở mức giá thấp, khiến giá hợp kim Pr-Nd tiếp tục đi xuống. Do biến động giá lớn, phần lớn doanh nghiệp kim loại lựa chọn tạm ngừng chào giá hoặc giữ báo giá ở mức tương đối cao. Khi tâm lý thị trường phục hồi và nguồn kim loại giao ngay hiện vẫn tương đối khan hiếm, các doanh nghiệp kim loại thể hiện ý định bán giá thấp yếu, giá hợp kim Pr-Nd phục hồi lên 980.000-1 triệu nhân dân tệ/tấn. Tuy nhiên, do người dùng cuối không đặt hàng tập trung, các doanh nghiệp vật liệu từ tính hạ nguồn chủ yếu thăm dò hỏi giá, giao dịch thực tế trên thị trường vẫn yếu, và đàm phán qua lại giữa thượng nguồn và hạ nguồn rơi vào bế tắc. Trên thị trường đất hiếm trung-nặng, hợp kim dysprosi-sắt được chào ở mức 1,42-1,44 triệu nhân dân tệ/tấn. Do hoạt động hỏi giá trên thị trường liên tục trầm lắng và giá nguyên liệu thô tiếp tục suy yếu, các doanh nghiệp kim loại đã hạ báo giá xuống 1,42-1,44 triệu nhân dân tệ/tấn, nhưng giao dịch thực tế không cải thiện. Giá kim loại terbium cũng chịu ảnh hưởng từ việc hỏi giá trên thị trường liên tục trầm lắng, chào giá của nhà cung cấp tiếp tục suy yếu, giá được điều chỉnh giảm xuống 7,8-7,84 triệu nhân dân tệ/tấn. Tuần này, hợp kim gadolini-sắt chịu tác động từ biến động mạnh của giá sản phẩm Pr-Nd, cùng với hoạt động hỏi giá và mua vào của hạ nguồn giảm bớt, chào giá của nhà cung cấp liên tục hạ xuống 233.000-235.000 nhân dân tệ/tấn, trước khi ngừng giảm và ổn định trở lại sau khi giá Pr-Nd phục hồi.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) được chào ở mức 241-251 nhân dân tệ/kg; phôi NdFeB 40M được chào ở mức 287-297 nhân dân tệ/kg; phôi NdFeB 40H được chào ở mức 291-301 nhân dân tệ/kg; phôi NdFeB 45SH (Ce) được chào ở mức 341-361 nhân dân tệ/kg.
Về giá cả, giá NdFeB trong tuần này giảm trước rồi tăng sau, thể hiện xu hướng “chữ V sâu”. Nguyên nhân cốt lõi là giá oxit Pr-Nd và kim loại Pr-Nd — nguyên liệu thô của NdFeB — tiếp tục biến động mạnh, kéo theo giá NdFeB dao động dữ dội. Xét về giao dịch, hoạt động thị trường tuần này đã phục hồi phần nào so với trước đó. Một mặt, tháng 3 đã bước vào giữa tháng, kế hoạch tích trữ hàng cho giai đoạn tháng 4-5 của các nhà máy động cơ và khách hàng cuối được kỳ vọng bắt đầu triển khai, nhu cầu bổ sung hàng mang tính cứng nhắc dần trở nên rõ rệt. Mặt khác, do giá nguyên liệu thô số lượng lớn biến động mạnh và có nhiều yếu tố bất ổn, các nhà máy vật liệu từ áp dụng chiến lược khác biệt rõ rệt, buộc các nhà máy động cơ hạ nguồn và nhà máy người dùng cuối phải thường xuyên hỏi giá và theo dõi sát diễn biến của thị trường NdFeB.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, giá chào Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB ở mức 740-750 NDT/kg; dysprosi tái chế từ phế liệu NdFeB ở mức 1.380-1.400 NDT/kg; terbi tái chế từ phế liệu NdFeB ở mức 5.800-6.000 NDT/kg.
Tuần này, giá giao ngay trên thị trường phế liệu biến động mạnh, chủ yếu do ảnh hưởng từ diễn biến giá thị trường oxit giảm trước rồi tăng trở lại. Đầu tuần, chịu tác động từ tin tức thị trường, giá kỳ hạn oxit Pr-Nd đã “lao dốc”, kéo giá giao ngay của oxit giảm rõ rệt, các doanh nghiệp tái chế theo đó cũng hạ giá thu mua phế liệu. Do giá oxit biến động lớn, một số doanh nghiệp tái chế bắt đầu kiểm soát khối lượng thu mua phế liệu. Trong khi đó, bên cung ứng phế liệu có xu hướng không muốn bán ở mức giá thấp, khiến giao dịch trên thị trường phế liệu tuần này diễn ra kém sôi động. Gần cuối tuần, nhờ giá oxit phục hồi, giá phế liệu cũng tăng trở lại, nhưng biên độ tăng tương đối hạn chế.



