Giá quặng Philippines tăng mạnh, nhiều rủi ro phía cung nâng đỡ mặt bằng chi phí
Giá quặng niken Philippines tăng mạnh trong tuần này. Về giá, quặng niken Philippines CIF Trung Quốc: hàm lượng Ni 1,3% ở mức 58–63 USD/wmt, Ni 1,4% ở mức 65–69 USD/wmt và Ni 1,5% ở mức 72–76 USD/wmt, tăng 4 USD so với tuần trước. Giá CIF trung bình từ Philippines sang Indonesia là 62,5 USD/wmt cho loại 1,3% và 69,5 USD/wmt cho loại 1,4%. Về phía cung, Philippines đang chuyển sang mùa khô, nhưng do ảnh hưởng của một vùng áp thấp đang hình thành (LPA) ở phía đông Mindanao, mưa lớn vẫn tiếp diễn tại các trung tâm khai thác như Surigao và đảo Homonhon. Dù Metro Manila và phần lớn Luzon có thời tiết nắng nóng, xác suất lượng mưa tuần vượt 50 mm tại Surigao và khu vực Caraga được đánh giá “cao đến cực cao”, và dự kiến dông mạnh cùng mưa rải rác sẽ tiếp tục gia tăng từ ngày 9 đến 13/3. Dưới tác động của rãnh LPA và gió Đông, thời tiết mưa kéo dài này có thể tiếp tục làm gián đoạn khai thác lộ thiên và hoạt động bốc xếp tàu tại các khu vực phía nam nêu trên. Hiện lượng hàng giao ngay sẵn có trên thị trường hạn chế; cùng với nguồn cung quặng niken thắt chặt và khả năng xuất hiện khoảng trống nhu cầu do kỳ vọng Indonesia cắt giảm hạn ngạch RKAB, giá chủ đạo của quặng niken Philippines đã tăng rõ rệt trong thời gian gần đây. Tính đến thứ Sáu, ngày 6/3, tồn kho quặng niken tại các cảng Trung Quốc đạt 5,73 triệu tấn, giảm 370.000 tấn so với tuần trước. Tổng tồn kho quặng niken tại cảng hiện tương đương hàm lượng kim loại khoảng 45.000 tấn Ni. Về phía cầu, giá NPI nội địa tăng trong tuần này, trong khi giá giao dịch giao ngay giảm khoảng 1.092,6 nhân dân tệ/đơn vị niken. Từ góc nhìn bộ phận thu mua của các nhà luyện, do đã tích trữ nhiều trước đó và mức chấp nhận hạn chế đối với quặng có giá gần đây tăng lên mức rất cao, phần lớn hiện đang đứng ngoài quan sát. Về cước vận tải biển, cước tăng mạnh gần đây do tình hình tại Iran, với cước từ Philippines đến cảng Thiên Tân ở mức 11 USD/tấn. Nhìn về phía trước, giá quặng niken Philippines dự kiến dao động ở vùng cao.
Thị trường Indonesia: Cung–cầu thắt chặt đẩy premium tăng; cơ quan chức năng làm rõ cơ chế bổ sung RKAB
Giá quặng niken nội địa Indonesia tăng đáng kể trong tháng này. Trong nửa đầu tháng 3, giá chuẩn quặng nickel Indonesia (HPM) được ấn định ở mức 17.104 USD/dmt, giảm 3,21% so với tháng trước. Theo dữ liệu SMM về mức premium quặng nickel Indonesia, premium bình quân đối với quặng nickel laterit hàm lượng 1,4%, 1,5% và 1,6% lần lượt ở mức 34 USD, 38 USD và 38,5 USD/dmt. Trong đó, giá hàng về cảng theo giá thương mại nội địa đối với loại 1,6% đạt 65,2–72,2 USD/wmt. Việc premium tăng đồng thời trong tháng này phản ánh nhu cầu bổ sung tồn kho của các nhà máy luyện được giải phóng và kỳ vọng bi quan về việc cắt giảm hạn ngạch RKAB; đồng thời, giá giao quặng limonit hàm lượng 1,2% cũng nhích lên theo, đạt 24–26 USD/wmt. Về cung–cầu, tính đến ngày 6/3, Sulawesi và Halmahera đang trong giai đoạn biến động mạnh vào cuối mùa mưa, và các đợt mưa lớn gián đoạn tiếp tục cản trở logistics tại mỏ. Morowali hiện nhiều mây với độ ẩm cực cao (94%); dù lượng mưa hiện vẫn nhẹ, dự kiến sẽ có một hệ thống mưa mạnh vào khoảng ngày 13/3, với lượng mưa đạt 48 mm. Konawe cũng chủ yếu nhiều mây, kèm dông hằng ngày. Trong khi đó, Halmahera được dự báo sẽ trải qua một cuối tuần mưa lớn, với xác suất dông lên tới 65% vào ngày 7–8/3. Mặc dù Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa vật lý Indonesia (BMKG) dự báo mùa khô sẽ đến sớm hơn vào tháng 4, các khu vực nêu trên vẫn chưa thể đạt công suất khai thác và bốc xếp tối đa do đất bão hòa nước cao và gió giật cục bộ. Dưới áp lực kép từ nguồn hàng có thể giao dịch khan hiếm và bất định về hạn ngạch RKAB, một số nhà máy luyện NPI buộc phải tăng mạnh thu mua trong tháng này để đảm bảo nguồn nguyên liệu. Dù nguồn cung giao ngay quặng limonit tương đối dồi dào, sự cố sạt lở đập chứa bùn thải tại một số dự án MHP trong một khu công nghiệp ở Indonesia khiến các dây chuyền liên quan vận hành ở tải thấp, dẫn đến một giai đoạn nhu cầu tổng thể suy yếu. Tuy nhiên, xét đến lo ngại của một số nhà máy luyện Indonesia về tính bất định trong phê duyệt RKAB, nhu cầu tích trữ nguyên liệu cho các dự án mới đưa vào vận hành, và nhu cầu tiếp tục tăng từ các đảo ngoài, giá quặng limonit được kỳ vọng sẽ bám sát quặng saprolit và duy trì ở mức caoVề mặt chính sách, trước những tin đồn lan rộng gần đây trên thị trường rằng “hạn ngạch sản xuất (RKAB) sẽ được tăng đồng loạt thêm 25%–30%”, ông Tri Winarno, Tổng cục trưởng Khoáng sản và Than thuộc Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia (ESDM), đã làm rõ vào ngày 3/3/2026 rằng việc tăng RKAB sẽ dựa trên đánh giá riêng đối với năng lực sản xuất và mức độ tuân thủ của từng doanh nghiệp, thay vì tăng theo tỷ lệ đồng loạt, đồng thời cho biết quy trình phê duyệt sẽ bắt đầu từ nửa cuối năm 2026. Các quan chức nhấn mạnh rằng động thái này là một quy trình quản lý thường lệ nhằm tối ưu hóa nguồn lực, không phải là biện pháp bù đắp thụ động cho chính sách trần sản lượng trước đó.



