Ngày 5/3/2026, giá chào ferô crôm cacbon cao tại Nội Mông, Tứ Xuyên và khu vực Tây Bắc Trung Quốc tăng 50 NDT/tấn (hàm lượng kim loại 50%) so với ngày giao dịch trước; ferô crôm cacbon cao tại Đông Trung Quốc đi ngang so với ngày giao dịch trước. Đối với ferô crôm nhập khẩu, giá chào ferô crôm cacbon cao từ Ấn Độ, Kazakhstan và Nam Phi tăng 100 NDT/tấn (hàm lượng kim loại 50%) so với ngày giao dịch trước.
Trong phiên, thị trường ferô crôm chủ yếu vận hành vững và ổn định, các nhà sản xuất giữ giá chào và phần lớn duy trì kỳ vọng tăng. Về chi phí, giá quặng crôm tiếp tục tăng, làm gia tăng thêm áp lực đối với hoạt động luyện ferô crôm; điều chỉnh chính sách tại Nam Trung Quốc đẩy giá điện tăng, trực tiếp nâng chi phí sản xuất, một số nhà sản xuất tạm dừng hoặc cắt giảm sản lượng, tạo hỗ trợ mạnh ở vùng đáy. Về nhu cầu, kế hoạch sản xuất thép không gỉ ở hạ nguồn phục hồi rõ rệt; được thúc đẩy bởi kỳ vọng mùa tiêu thụ cao điểm “Tháng Ba vàng, Tháng Tư bạc”, các nhà máy thép dần giải phóng nhu cầu mua ferô crôm để bổ sung tồn kho nguyên liệu; gần đây, một số nhà máy thép đã vào thị trường mua hàng và giá thầu tăng. Đồng thời, do một số nhà sản xuất ferô crôm chủ yếu giao các đơn hàng trước đó, nguồn cung hàng giao ngay tương đối khan hiếm; nhìn chung cung–cầu vẫn trong trạng thái cân bằng chặt, và thị trường ferô crôm được kỳ vọng chủ yếu duy trì ổn định trong ngắn hạn. Trên thị trường nước ngoài, vẫn cần theo dõi tiến độ chính sách giá điện đặc biệt 0,62 rand/kWh của Nam Phi dành cho ngành ferô crôm, và quan sát tác động tiềm tàng lên thị trường trong nước nếu sự phục hồi của ngành ferô crôm Nam Phi thúc đẩy nhập khẩu ferô crôm của Trung Quốc.
Về nguyên liệu, ngày 5/3/2026, giá chào hàng giao ngay tại cảng Thiên Tân—quặng mịn Nam Phi 40–42%; quặng thô Nam Phi 40–42%; tinh quặng crôm Zimbabwe dạng mịn 46–48%; tinh quặng crôm Zimbabwe dạng mịn 48–50%; quặng cục Thổ Nhĩ Kỳ 40–42%; và quặng tinh crôm Thổ Nhĩ Kỳ 46–48%—tăng 0,5–1 NDT/mtu so với ngày giao dịch trước. Trên thị trường kỳ hạn, giá chào mới nhất đối với quặng mịn Nam Phi 40–42% là 307 USD/tấn; báo giá thị trường nước ngoài đối với quặng crôm Zimbabwe giữ ổn định ở mức cao
Thị trường quặng crôm trong phiên diễn biến mạnh, giá giao ngay và giá kỳ hạn tăng đồng pha. Ở mảng giao ngay, được thúc đẩy bởi báo giá thị trường nước ngoài tăng, chi phí mua vào tăng; kỳ vọng tăng giá của thương nhân trong nước rõ rệt hơn và giá chào tiếp tục nhích lên. Trong khi đó, lượng hàng quặng crôm xuất đi có xu hướng giảm; nguồn cung dự kiến sẽ thắt chặt trong thời gian tới, hàng giao ngay—đặc biệt là hàng cục chủ lực—khá khan hiếm, khiến giá quặng còn dư địa tăng trong ngắn hạn. Mức chấp nhận của hạ nguồn đối với hàng giá cao ở mức trung bình, nhưng khi tồn kho hiện có tiếp tục được tiêu thụ, một số nhà sản xuất bắt đầu dần chấp nhận mặt bằng giá hiện tại và bổ sung hàng theo từng đợt để duy trì tính liên tục của sản xuất. Ở mảng kỳ hạn, báo giá mới nhất cho quặng crôm cô đặc Nam Phi 40–42% là 307 USD/tấn, tăng 7 USD so với tháng trước, phù hợp với kỳ vọng tăng giá của thị trường; quặng crôm cô đặc Zimbabwe giữ ổn định ở mức cao do chính sách kiểm soát xuất khẩu tại địa phương; và với các loại quặng crôm chủ lực như Thổ Nhĩ Kỳ, cước vận tải biển tăng mạnh do xung đột địa chính trị ở Trung Đông, làm tăng chi phí về cảng và đẩy giá lên. Trong ngắn hạn, thị trường quặng crôm được kỳ vọng nhìn chung sẽ duy trì vững.

![[SMM Steel] Trung Quốc sẽ siết chặt kiểm soát tình trạng dư thừa công suất trong ngành thép và các ngành công nghiệp nặng](https://imgqn.smm.cn/usercenter/ENDOs20251217171718.jpg)
![[SMM Steel] Thép Meishan hoàn thành dự án chuyển đổi HRC 1.422 mm](https://imgqn.smm.cn/usercenter/wSpkX20251217171718.png)
