Thứ Năm, ngày 26 tháng 2 năm 2026
Hợp đồng tương lai: Đồng LME mở cửa ở mức 13.299 USD/tấn qua đêm. Sau khi mở cửa, trung tâm giá dao động đi xuống, chạm mức thấp 13.244 USD/tấn, sau đó tăng lên mức cao 13.350 USD/tấn vào cuối phiên, cuối cùng đóng cửa ở 13.349,5 USD/tấn, tăng 1,17%. Khối lượng giao dịch đạt 19.000 lô, giảm 6.860 lô so với phiên giao dịch trước; số lô mở đạt 321.000 lô, tăng 4.315 lô so với phiên trước, với biểu hiện tổng thể chủ yếu là tăng vị thế mua. Hợp đồng đồng 2604 được giao dịch nhiều nhất trên SHFE mở cửa ở mức 102.880 nhân dân tệ/tấn qua đêm. Hợp đồng này chạm mức cao 103.250 nhân dân tệ/tấn vào đầu phiên, sau đó trung tâm giá di chuyển xuống, thăm dò đáy ở 102.520 nhân dân tệ/tấn, và cuối cùng đóng cửa ở 103.040 nhân dân tệ/tấn, tăng 0,58%. Khối lượng giao dịch đạt 45.000 lô, giảm 65.000 lô so với phiên giao dịch trước; số lô mở đạt 177.000 lô, tăng 3.546 lô so với phiên trước, với biểu hiện tổng thể chủ yếu là tăng vị thế mua.
[Biên bản hội nghị buổi sáng Đồng SMM] Tin tức:
(1) Vào thứ Ba, ngày 24 tháng 2, Hudbay Minerals đã được Chính phủ British Columbia, Canada phê duyệt để triển khai dự án mở rộng ba giai đoạn tại mỏ Copper Mountain, kéo dài tuổi thọ hoạt động của mỏ đến năm 2040. Mỏ Copper Mountain là một trong những địa điểm sản xuất đồng lớn nhất Canada. Mỏ đồng lộ thiên hiện tại dự kiến sẽ được khai thác đến năm 2033. Hudbay Minerals cho biết sau khi hoàn thành dự án mở rộng New Ingerbelle, tuổi thọ mỏ sẽ được kéo dài thêm 10 năm, kéo dài thời gian sử dụng từ năm 2027 đến năm 2037. Dựa trên trữ lượng hiện tại, giai đoạn kéo dài dự kiến sẽ sản xuất khoảng 750.000 tấn đồng, 900.000 ounce vàng và 5,5 triệu ounce bạc. Từ năm 2036 đến năm 2040, mỏ sẽ bắt đầu tái xử lý các bãi quặng cấp thấp và dần bước vào giai đoạn phục hồi sinh thái và đóng cửa.
Giao ngay:
(1) Thượng Hải: Vào ngày 25 tháng 2, giá giao ngay đồng cathode #1 của SMM so với hợp đồng kỳ hạn gần 2603 được chào ở mức chiết khấu 280-80 nhân dân tệ/tấn, với mức chiết khấu trung bình là 180 nhân dân tệ/tấn, giảm 430 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước; giá đồng cathode #1 của SMM dao động từ 101.690 đến 102.440 nhân dân tệ/tấn. Trong phiên sáng, hợp đồng đồng 2603 trên SHFE đầu tiên tăng, sau đó giảm, rồi lại tăng. Giá mở cửa là 101.840 nhân dân tệ/tấn. Sau khi mở cửa, giá tăng lên 102.400 nhân dân tệ/tấn, sau đó giảm nhẹ xuống 101.950 nhân dân tệ/tấn, trước khi tăng trở lại lên mức cao 102.550 nhân dân tệ/tấn. Giá chủ yếu dao động trong khoảng 102.300 đến 102.500 nhân dân tệ/tấn, đóng cửa ở 102.380 nhân dân tệ/tấn. Chênh lệch kỳ hạn gần giữa các tháng dao động từ 390 đến 340 nhân dân tệ/tấn. Biên lợi nhuận nhập khẩu cho đồng kỳ hạn gần trên SHFE nằm trong khoảng lỗ 470 đến 390 nhân dân tệ/tấn.
(2) Quảng Đông: Giá giao ngay đồng cathode loại 1 của Quảng Đông so với hợp đồng kỳ hạn tháng đầu hiện ở mức chiết khấu 120-320 nhân dân tệ/tấn, chiết khấu trung bình 220 nhân dân tệ/tấn, giảm 70 nhân dân tệ/tấn so với hôm qua; đồng SX-EW được niêm yết ở mức chiết khấu 360-400 nhân dân tệ/tấn, chiết khấu trung bình 380 nhân dân tệ/tấn, giảm 20 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Giá trung bình đồng cathode loại 1 của Quảng Đông là 101.925 nhân dân tệ/tấn, tăng 1.000 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Giá trung bình đồng SX-EW là 101.765 nhân dân tệ/tấn, tăng 1.050 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Nhìn chung, việc tăng cường sản xuất trở lại ở các công đoạn xuôi dòng khiến nhu cầu tăng nhẹ, phí giao ngay điều chỉnh tăng cao hơn và giao dịch tổng thể được cải thiện nhẹ so với hôm qua.
(3) Đồng nhập khẩu: Ngày 25 tháng 2 năm 2026, giá warrant là 45-57 USD/tấn, QP tháng 3, giá trung bình giảm 2 USD/tấn so với phiên giao dịch trước; giá B/L là 42-54 USD/tấn, QP tháng 3, giá trung bình giảm 1 USD/tấn so với phiên giao dịch trước; đồng EQ (CIF B/L) là 15-23 USD/tấn, QP tháng 3, giá trung bình giảm 1 USD/tấn so với phiên giao dịch trước. Báo giá tham chiếu hàng hóa đến cuối tháng 2 và đầu tháng 3.
(4) Đồng phế liệu: Lúc 11:30 ngày 25 tháng 2, giá chốt hợp đồng tương lai là 102.380 nhân dân tệ/tấn, tăng 680 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước; phí giao ngay trung bình là -180 nhân dân tệ/tấn, giảm 180 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Hôm nay, giá đồng phế liệu tăng 300 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước; giá đồng sáng trần Quảng Đông là 90.000-90.200 nhân dân tệ/tấn, tăng 300 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Chênh lệch giá giữa đồng cathode và đồng phế liệu là 3.189 nhân dân tệ/tấn, giảm 80 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Chênh lệch giá giữa đồng cathode dạng que và đồng phế liệu dạng que là 1.515 nhân dân tệ/tấn. Theo khảo sát của SMM, đồng phế liệu dạng que bắt đầu đến dần, nhưng do thiết bị nung lò cần hai ngày, các doanh nghiệp đồng phế liệu dạng que cho biết sản phẩm hoàn chỉnh sớm nhất sẽ có vào ngày 1 tháng 3. Hiện tại doanh số bán hàng đều từ hàng tồn kho trước kỳ nghỉ.
Giá cả: Về mặt vĩ mô, tâm lý thị trường được cải thiện do thiếu sự rõ ràng trong chính sách thương mại của Mỹ, có lợi cho giá đồng. Ngoài ra, căng thẳng từ việc Mỹ tăng cường quân sự trước vòng đàm phán Mỹ-Iran tiếp theo, kết hợp với bất ổn ở Mexico, hỗ trợ các kim loại quý như vàng và bạc, cũng có lợi cho giá đồng. Về mặt cơ bản, phía cung, hàng nhập khẩu tiếp tục đến, cùng với việc các warrant giao hàng không khớp tiếp tục được giải tỏa, dẫn đến nguồn cung thị trường nhìn chung dồi dào; phía cầu, khi các công đoạn xuôi dòng dần dần nối lại sản xuất, tâm lý mua hàng cho thấy sự cải thiện biên. Nhìn chung, giá đồng dự kiến sẽ duy trì tốt trong ngày hôm nay.
[Thông tin được cung cấp chỉ mang tính chất tham khảo. Bài viết này không cấu thành lời khuyên nghiên cứu đầu tư trực tiếp. Khách hàng nên đưa ra quyết định thận trọng và không sử dụng thông tin này để thay thế cho việc đánh giá độc lập. Bất kỳ quyết định nào được đưa ra bởi khách hàng đều không liên quan đến SMM.]



