Tổng quan ngành Dây và Cáp năm 2025 và Triển vọng 2026:——Cơ hội mới nổi lên giữa thách thức

Đã xuất bản: Feb 13, 2026 13:33
Năm 2025 đã khép lại. Trong bối cảnh giá đồng liên tục lập đỉnh lịch sử, tỷ lệ vận hành ngành dây và cáp năm qua có những đặc điểm gì? Năm 2026 mở đầu cho kế hoạch 5 năm lần thứ 15, tương lai phát triển của ngành dây và cáp sẽ ra sao? ......

    Năm 2025 đã khép lại. Trong bối cảnh giá đồng liên tục lập đỉnh lịch sử, tỷ lệ vận hành của ngành dây và cáp đã thể hiện những đặc điểm gì trong năm qua? Khi năm 2026 đánh dấu khởi đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 15, tương lai phát triển của ngành dây và cáp nằm ở đâu? Bài viết này tổng quan toàn diện hiệu suất thị trường năm 2025 và dự báo xu hướng ngành năm 2026, dựa trên số liệu khảo sát của SMM và các diễn biến trong ngành.

I. Tỷ Lệ Vận Hành Chịu Áp Lực, Doanh Nghiệp Có Xu Hướng Thận Trọng

    Năm 2025, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp dây và cáp đồng thể hiện mô hình “dao động theo giai đoạn, nhìn chung yếu trong năm”; tỷ lệ trung bình ngành là 70,85%, giảm 1,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù lưới điện truyền thống vẫn là nguồn đơn hàng cốt lõi, đợt lắp đặt điện mặt trời cuối năm kết thúc, giá đồng tăng cao và kéo theo đơn hàng giảm, trong khi nhu cầu từ xây dựng và các phân khúc truyền thống khác vẫn trì trệ, khiến tỷ lệ vận hành chịu áp lực rộng.

    Năm 2026, năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ 15, Tập đoàn Lưới điện Quốc gia sẽ khởi động chu kỳ xây dựng sớm và triển khai kế hoạch phát triển dài hạn, do đó tổng đầu tư dự kiến sẽ tăng đều. Đồng thời, nhu cầu từ các lĩnh vực mới nổi như xe điện (NEV), tích trữ năng lượng đang được cải thiện, mang lại sự hỗ trợ mới cho tiêu thụ dây và cáp. Tuy nhiên, sau những biến động gần đây của giá đồng, các doanh nghiệp dây và cáp vẫn thận trọng và quan sát các diễn biến tương lai; kỳ vọng thị trường tổng thể là hợp lý và bảo thủ. Hầu hết các công ty linh hoạt điều chỉnh sản lượng theo đơn đặt hàng để tránh mở rộng mù quáng làm tăng tồn kho. Để phòng ngừa rủi ro vận hành do giá cả, đa số sẽ sử dụng phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng tương lai, khóa giá đồng theo từng đơn hàng và mua sắm đúng lúc theo lô.

II. Áp Lực Chi Phí Nổi Bật, Ý Định Sử Dụng Que Đồng Tái Chế Tăng

    Năm 2025, giá đồng catốt tăng cao với biên độ dao động rộng, đẩy chi phí mua nguyên liệu thô lên. Đồng thời, cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành dây và cáp buộc các doanh nghiệp phải siết chặt biên lợi nhuận để bảo vệ thị phần và đảm bảo đơn hàng, khiến ít có không gian để tăng giá bán sản phẩm. Khi chênh lệch giá giữa que đồng catốt và que đồng tái chế mở rộng, các nhà sản xuất dây và cáp có xu hướng mua que đồng tái chế nhiều hơn. Nếu giá đồng biến động ở mức cao cho đến năm 2026 và công nghệ, chất lượng sản xuất cáp đồng tái chế tiếp tục hoàn thiện, sự chấp nhận của khách hàng cuối với cáp đồng tái chế sẽ tăng lên, đồng thời ý muốn mua nguyên liệu này của doanh nghiệp dự kiến được củng cố thêm.

III. Tỷ lệ giá đồng/nhôm mở rộng — Hiệu ứng thay thế đồng bằng nhôm có xuất hiện?

    Tỷ lệ giá đồng/nhôm không ngừng mở rộng; dưới tác động của yếu tố chi phí, xu hướng thay thế đồng bằng nhôm đang nổi lên trong lĩnh vực gia dụng, phân phối điện trung và hạ áp cùng các ngành cuối khác, làm chuyển hướng một phần nhu cầu cáp điện đồng. Tuy nhiên, những hạn chế vốn có về hiệu suất của cáp điện nhôm khiến rào cản kỹ thuật vẫn tồn tại; trong các phân khúc yêu cầu cao về hiệu suất như cáp cao cấp, nhôm vẫn không thể thay thế những ưu thế cốt lõi của đồng. Năm 2026, cần theo dõi liên tục tiến bộ công nghệ cáp nhôm và tỷ lệ giá đồng/nhôm; nếu tỷ lệ này tiếp tục mở rộng, cần quan sát xem liệu lợi thế về chi phí có thể đẩy nhanh đột phá kỹ thuật và gia tăng áp lực thay thế đối với cáp điện đồng hay không.

IV. Biến động gia tăng trong đấu thầu lưới điện quốc gia

    Khối lượng đấu thầu đồng ước tính năm 2025 tiếp tục tuân theo mô hình biến động theo mùa của những năm trước, nhưng biên độ tổng thể mở rộng đáng kể. Quy mô các giai đoạn đấu thầu tập trung cao hơn đáng kể so với hai năm trước, trong khi khối lượng đấu thầu vào mùa thấp điểm thu hẹp hơn nữa. Trong đó, mức tăng theo tháng vào tháng 10 là rõ rệt nhất, được thúc đẩy bởi đầu tư của Lưới điện Quốc gia năm 2025 cao hơn so với các năm trước, cùng với tác động của giá đồng cao và nhu cầu yếu vào đầu năm, làm chậm tiến độ đấu thầu và hạn chế khối lượng giải ngân. Ngoài ra, do năm 2025 là năm cuối của Kế hoạch 5 năm lần thứ 14, đầu tư lưới điện bước vào giai đoạn thúc đẩy cuối năm tập trung, cùng nhau đẩy khối lượng đấu thầu trong tháng 10 lên cao hơn đáng kể so với các mức trước đó. Đáng chú ý, giá đồng tiếp tục phá mức cao kỷ lục vào nửa cuối năm 2025, khiến nhiều dự án hoàn thành đấu thầu nhưng trì hoãn đặt hàng. Chỉ sau khi giá đồng bước vào giai đoạn điều chỉnh vào năm 2026, các đơn hàng đã trao trước đó mới bắt đầu được thực hiện dần dần. Mặc dù đầu tư vào các dự án nguồn điện giảm, điều này phản ánh quá trình chuyển đổi bình thường của ngành năng lượng từ mở rộng nhanh sang phát triển chất lượng cao. Đối với ngành dây và cáp, sự thay đổi này phản ánh sự chuyển dịch trong cơ cấu nhu cầu chứ không phải là sự suy giảm nhu cầu cứng tổng thể trong lĩnh vực điện lực. Trọng tâm tăng trưởng đơn thuần chuyển từ công suất phát điện sang xây dựng lưới điện.

V. Xuất khẩu ra nước ngoài tăng trưởng ổn định

    Xuất khẩu dây và cáp đồng của Trung Quốc duy trì đà tăng trưởng ổn định trong năm 2025, với Đông Nam Á và Nam Phi là các thị trường xuất khẩu trọng điểm. Nhu cầu nội địa trì trệ, khả năng sinh lời của ngành hạn chế, trong khi nhu cầu cơ sở hạ tầng ở nước ngoài mạnh mẽ, cạnh tranh thị trường giảm bớt, chu kỳ thanh toán nhanh hơn và biên lợi nhuận cao hơn đã khuyến khích các doanh nghiệp tích cực mở rộng sang thị trường nước ngoài.
    Năm 2026, cạnh tranh nội địa trong ngành dây và cáp vẫn gay gắt, áp lực về khả năng sinh lời tiếp tục tồn tại. Thị trường nước ngoài sẽ trở thành hướng đột phá tăng trưởng quan trọng cho các doanh nghiệp.Việc phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu vực như Đông Nam Á và Nam Phi tiếp tục được đẩy mạnh, duy trì nhu cầu cứng ổn định đối với cáp. Cùng với sự cải thiện dần về năng lực cạnh tranh của sản phẩm dây và cáp Trung Quốc và việc mở rộng kênh phân phối ở nước ngoài, số lượng doanh nghiệp chủ động vươn ra toàn cầu dự kiến sẽ tăng thêm. Xuất khẩu dây và cáp đồng nhiều khả năng duy trì đà tăng trưởng, trở thành điểm sáng then chốt hỗ trợ nhu cầu ngành.

    Là năm khởi đầu của Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 vào năm 2026, Tập đoàn Lưới điện Quốc gia Trung Quốc đang chủ động lên kế hoạch cho chu kỳ xây dựng hệ thống điện mới. Đầu tư hàng năm dự kiến tiếp tục tăng, với các nỗ lực được đẩy mạnh trong các lĩnh vực như siêu cao áp, nâng cấp lưới điện chính và phân phối, tích hợp lưu trữ năng lượng và số hóa lưới điện. Đây sẽ tiếp tục là trụ cột chính hỗ trợ tiêu thụ dây và cáp. Chịu ảnh hưởng từ biến động kéo dài của giá đồng, các doanh nghiệp dây và cáp duy trì thái độ thận trọng và chờ đợi đối với triển vọng thị trường. Tuy nhiên, nhu cầu cứng từ phía lưới điện thể hiện khả năng phục hồi mạnh mẽ; ngay cả khi giá đồng duy trì ở mức cao hoặc tiếp tục tăng, nhu cầu liên quan sẽ không biến mất mà chỉ có thể bị trì hoãn trong thực hiện đơn hàng, như đã thấy vào cuối năm 2025. Một khi giá đồng bước vào giai đoạn điều chỉnh, nhu cầu dồn nén dự kiến sẽ được giải phóng nhanh chóng và tập trung. Bên cạnh đó, nhu cầu tích cực bền vững từ lĩnh vực xe điện (NEV) cung cấp thêm nguồn hỗ trợ tăng trưởng cho tiêu thụ dây và cáp. Tuy nhiên, kỳ vọng nhu cầu trong lĩnh vực điện mặt trời còn tương đối yếu, và ngành xây dựng khó có khả năng phục hồi đáng kể. Nhìn chung, ngành công nghiệp dây và cáp có triển vọng tăng trưởng lạc quan về tiêu thụ trong lĩnh vực điện lực vào năm 2026, với xu hướng nhu cầu nhìn chung đi lên. Biến động giá đồng chỉ ảnh hưởng đến tốc độ giải phóng trong ngắn hạn và sẽ không thay đổi xu hướng tăng cốt lõi của nhu cầu ngành.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
3 giờ trước
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Đọc thêm
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant Resources cho biết quá trình phát triển dự án đồng-vàng Hope & Gorob tại Namibia và Nhà máy Chế biến Kim loại Tsoaxaub liên quan vẫn đang đi đúng tiến độ hiện tại, với quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến được xử lý trong tháng 9 năm 2026. Sau khi hoàn tất các hoạt động chạy thử còn lại, việc xử lý quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến sẽ tạo ra tinh quặng đầu tiên của dự án. Quặng từ hai vụ nổ mìn đầu tiên đã được lưu kho và sẵn sàng vận chuyển đến nhà máy chế biến, trong khi Bezant cho biết khối lượng quặng lưu kho đã vượt dự kiến ban đầu nhờ lượng quặng thu hồi bổ sung được ghi nhận trong Kiểm kê Khoáng sản của công ty. Công tác phát triển đang tiến triển tại cả mỏ và nhà máy chế biến. Việc xây dựng khu lán trại tại mỏ đã hoàn thành khoảng 75%, khoảng 75% cơ sở hạ tầng bề mặt đã được bàn giao và đang được lắp đặt, và toàn bộ đội xe khai thác và vận chuyển của Unitrans hiện đã có mặt tại công trường. Tại nhà máy Tsoaxaub, Bezant đã nhận được Chứng nhận Hoàn thành Kết cấu và Xây dựng C1, xác nhận hoàn thành các công trình kết cấu thép chính và công trình dân dụng, trong khi Chứng nhận Hoàn thành Cơ khí C2 dự kiến hoàn thành trong tháng 9. Hệ thống truyền động điện và thiết bị đo đạc đã hoàn thành khoảng 90%, với máy nghiền côn, thiết bị tuyển nổi, hạ tầng quặng đuôi và các bộ phận chế biến khác đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi chạy thử. Bezant cũng đã đẩy nhanh việc rà soát kế hoạch mở rộng Giai đoạn II, xem xét giá đồng, vàng và bạc hiện tại cũng như dự báo, cùng với khả năng đưa vào các khoáng hóa hàm lượng thấp trước đây từng được coi là không kinh tế. Công ty đang đánh giá chiến lược vận hành với tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn cho máy phân loại quặng, có thể tăng tỷ lệ thu hồi đồng, mặc dù có thể ở cấp hàm lượng tiền tinh quặng thấp hơn. Dựa trên Kiểm kê Khoáng sản hiện tại, Tài nguyên Khoáng sản JORC (2012) hiện có, công suất nhà máy tuyển nổi theo kế hoạch và kịch bản tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn đang được xem xét, ban lãnh đạo tin rằng Hope & Gorob có tiềm năng hỗ trợ tuổi thọ mỏ khoảng 35 năm. Bezant chưa công bố mô hình kinh tế cập nhật bao gồm kịch bản tuổi thọ dài hơn này. Phân tích SMM: Mục tiêu xử lý vào tháng 9 đưa Hope & Gorob tiến gần đến giai đoạn chuyển từ phát triển mỏ sang sản xuất tinh quặng ban đầu, với quặng nguyên khai đã được lưu kho và hạ tầng chế biến chính sắp hoàn thành cơ khí. Tuổi thọ mỏ tiềm năng 35 năm và kế hoạch mở rộng Giai đoạn II vẫn đang trong quá trình rà soát kỹ thuật và kinh tế, và chưa nên được coi là kế hoạch phát triển cập nhật đã được xác nhận. Trong ngắn hạn, mốc quan trọng cần theo dõi sẽ là việc hoàn tất chạy thử nhà máy và xác nhận sản xuất tinh quặng đầu tiên trong tháng 9.
3 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
3 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
Đọc thêm
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] SMM dự kiến tỷ lệ vận hành chung của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc sẽ phục hồi 1,30 điểm phần trăm so với tháng trước lên 44,11% vào tháng 9 năm 2026. Trong đó, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp dự kiến giảm 7,19 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 57,88% do bảo trì tại một số doanh nghiệp và tăng công suất tinh luyện; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp dự kiến phục hồi 4,76 điểm phần trăm so với tháng trước lên 38,48%. (Chỉ tính cực dương đồng không tự sử dụng)
3 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
3 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Đọc thêm
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] Tháng 8/2026, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc theo SMM đạt 42,81%, giảm 1,85 điểm phần trăm so với tháng trước. Xét theo nguyên liệu, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp tăng 1,54 điểm phần trăm so với tháng trước lên 65,07%; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp giảm 3,23 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 33,72% do nguồn cung phế liệu đồng đã bao thuế thắt chặt. (Chỉ tính cực dương đồng không tự tiêu thụ)
3 giờ trước