Nhận định Sáng Nhôm oxit Ngày 3/2
Hợp đồng tương lai:Trong phiên đêm, hợp đồng tương lai nhôm oxit 2605 được giao dịch nhiều nhất mở cửa ở mức 2.796 nhân dân tệ/tấn, chạm mức cao 2.843 nhân dân tệ/tấn, chạm mức thấp 2.783 nhân dân tệ/tấn và cuối cùng đóng cửa ở mức 2.821 nhân dân tệ/tấn, tăng 49 nhân dân tệ/tấn so với ngày hôm trước. Số lượng lệnh mở tăng 270 lô lên 376.000 lô, do giao dịch thị trường tổng thể vẫn thận trọng, trong khi các hoạt động bảo trì và ngừng sản xuất tại các nhà máy lọc nhôm oxit đã hỗ trợ phần nào cho phe mua. Về mặt kỹ thuật, giá đóng cửa nằm trên các đường MA5 (2.797,60), MA10 (2.756,70) và MA30 (2.762,23), tạo ra một số đà tăng. Đồng thời, chỉ số DIF (3,87) của MACD vượt lên trên đường DEA (-3,49), tạo thành giao cắt vàng ở mức thấp, với biểu đồ histogram ở mức 14,73, cho thấy hợp đồng tương lai nhôm oxit dự kiến sẽ tiếp tục giao dịch trong vùng ảm đạm trong ngắn hạn.
Phía quặng:Tính đến ngày 2 tháng 2 năm 2026, chỉ số quặng boxit nhập khẩu SMM đứng ở mức 62,42 USD/tấn, giảm 1,96 USD/tấn so với ngày hôm trước, chủ yếu do giá giao dịch dự kiến giữa người mua và người bán giảm và giá xút ăn da giảm so với các giai đoạn trước đó. Mức trung bình FOB Guinea của SMM được báo cáo là 39 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước. Mức trung bình CIF quặng boxit Guinea của SMM là 61 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước. Mức trung bình CIF quặng boxit nhiệt độ thấp Australia của SMM là 60 USD/tấn, giảm 2,5 USD/tấn so với ngày hôm trước. Mức trung bình CIF quặng boxit nhiệt độ cao Australia của SMM là 56 USD/tấn, giảm 1,5 USD/tấn so với ngày hôm trước. Mức trung bình CIF quặng boxit Malaysia là 47 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước, trong khi mức trung bình CIF quặng boxit Malaysia (đã rửa) là 60 USD/tấn, giảm 1 USD/tấn so với ngày hôm trước. Giá CIF quặng boxit Ghana là 73 USD/tấn, giảm 0,5 USD/tấn so với ngày hôm trước. Giá CFR quặng boxit (Thổ Nhĩ Kỳ) là 71,5 USD/tấn, giảm 2 USD/tấn so với thứ Sáu tuần trước. Về phía quặng trong nước, việc tái sản xuất quặng boxit ở Sơn Tây diễn ra sôi động, với nguồn cung hiện tại tương đối dồi dào, gây áp lực lên giá cả. Đối với quặng nhập khẩu, giá giao dịch dự kiến gần đây giữa người mua và người bán đã giảm so với các giai đoạn trước đó, và các giao dịch thị trường hiện tại trì trệ. Một số nhà máy lọc nhôm oxit báo cáo kế hoạch mua hàng thận trọng trong bối cảnh giá quặng giảm. SMM sẽ tiếp tục theo dõi sản xuất tại các mỏ trong nước và nước ngoài, lượng hàng xuất cảng tại cảng, và xu hướng giá cả.
Giá Giao Ngay:Tính đến ngày 2 tháng 2 năm 2025, chỉ số alumina SMM là 2.620,68 nhân dân tệ/tấn, giảm 2,03 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Chỉ số alumina SMM Sơn Đông là 2.550,3 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,41 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Chỉ số alumina SMM Hà Nam là 2.619,62 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,17 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Chỉ số alumina SMM Sơn Tây là 2.605,13 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,61 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Chỉ số alumina SMM Quý Châu là 2.694,27 nhân dân tệ/tấn, giảm 3,79 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước. Chỉ số alumina SMM Quảng Tây là 2.675,4 nhân dân tệ/tấn, giảm 5,19 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước.
Báo Cáo Hàng Ngày về Chênh Lệch Giá Giao Ngay và Hợp Đồng Tương Lai:Theo dữ liệu từ SMM, vào ngày 2 tháng 2, chỉ số alumina SMM chiết khấu 143,32 nhân dân tệ/tấn so với giá giao dịch mới nhất của hợp đồng được giao dịch nhiều nhất lúc 11:30.
Báo Cáo Hàng Ngày về Chứng Nhận Kho:Vào ngày 2 tháng 2, tổng khối lượng đăng ký chứng nhận kho alumina tăng 11.100 tấn so với ngày giao dịch trước đó, lên 182.200 tấn. Tổng khối lượng đăng ký tại Sơn Đông không thay đổi so với ngày hôm trước ở mức 7.796 tấn, tại Hà Nam không thay đổi ở mức 0 tấn, tại Quảng Tây không thay đổi ở mức 7.505 tấn, tại Cam Túc tăng 903 tấn lên 17.400 tấn, và tại Tân Cương tăng 10.200 tấn lên 149.500 tấn.
Thị Trường Nước Ngoài:Tính đến ngày 2 tháng 2 năm 2026, giá alumina FOB tại Tây Úc là 308 USD/tấn, tỷ lệ cước vận chuyển đường biển là 20,2 USD/tấn, và tỷ giá bán USD/CNY là khoảng 6,97. Mức giá này tương đương với giá bán khoảng 2.665,08 nhân dân tệ/tấn tại các cảng chính trong nước, cao hơn một chút so với giá chỉ số alumina SMM là 44,4 nhân dân tệ/tấn. Theo tính toán mô hình SMM, cơ hội kinh doanh chênh lệch giá nhập khẩu đã đóng.
Tóm Tắt:Nhìn chung, tính đến thứ Năm tuần trước, tồn kho thị trường alumina trong nước có sự phục hồi nhẹ, với tình trạng cung vượt cầu tổng thể vẫn tiếp diễn. Hiện tại, một số nhà máy lọc alumina đã bắt đầu bảo trì, với các doanh nghiệp trên khắp các khu vực lên lịch ngừng hoạt động với quy mô khác nhau, dẫn đến việc tỷ lệ vận hành ngành giảm và sản lượng hàng tuần giảm 35.000 tấn xuống 1,636 triệu tấn. Về phía tồn kho, do số lượng doanh nghiệp bảo dưỡng tăng lên, tồn kho alumina tại nhà máy đã giảm 3.000 tấn xuống 1,2408 triệu tấn. Tồn kho nguyên liệu tại các doanh nghiệp nhôm tăng nhẹ lên 3,603 triệu tấn, chủ yếu do việc giao hàng liên tục theo các hợp đồng dài hạn. Tồn kho trên sàn giao dịch, thu hút bởi đà tăng giá trước đó, đã chứng kiến tâm lý giao hàng tăng lên, tăng 40.000 tấn lên 159.100 tấn; trong khi tồn kho đang vận chuyển và tại ga giảm 30.000 tấn do hàng hóa dần được chuyển đến các đơn vị tiêu thụ cuối cùng. Nhìn chung, mặc dù tốc độ tích lũy tồn kho hiện tại đã chậm lại so với giai đoạn trước, áp lực tồn kho toàn ngành vẫn tồn tại, và quá trình giảm tồn kho chưa đạt như kỳ vọng. Cần tiếp tục theo dõi sát việc thực hiện bảo dưỡng tại các doanh nghiệp. Nếu phía cung không tiếp tục thu hẹp, tồn kho dự kiến sẽ duy trì xu hướng tích lũy nhẹ trong tuần tới, và giá alumina giao ngay có khả năng vẫn ở mức trầm lắng. [Ngoại trừ thông tin công khai, các dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, chỉ để tham khảo và không cấu thành lời khuyên quyết định.]


![Đợt tăng giá thầu tháng 9 được thực hiện; nhôm florua tiếp tục xu hướng mạnh [SMM Đánh giá tuần muối florua]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/qKBjc20251217171650.jpg)
