Theo tính toán sơ bộ của Tổng cục Thống kê (NBS), tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt 140.187,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 5,0% so với năm trước tính theo giá so sánh. Theo ngành, giá trị gia tăng ngành nông nghiệp đạt 9.334,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 3,9% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp đạt 49.965,3 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 4,5%; và ngành dịch vụ đạt 80.887,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 5,4%. Theo quý, GDP tăng 5,4% so với cùng kỳ quý 1, 5,2% quý 2, 4,8% quý 3 và 4,5% quý 4. So với quý trước, GDP quý 4 tăng 1,2%.
Kinh tế năm 2025 phát triển theo hướng chất lượng cao mới, đáp ứng kỳ vọng và mục tiêu
Năm 2025, trong bối cảnh môi trường kinh tế trong nước và quốc tế có nhiều biến động phức tạp, dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Tổng Bí thư Tập Cận Bình là hạt nhân, các địa phương và bộ ngành đã triển khai sâu rộng các quyết định và sắp xếp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quốc vụ viện, kiên định thực hiện triết lý phát triển mới, thúc đẩy phát triển chất lượng cao, cân bằng tình hình trong nước và quốc tế, phối hợp phát triển và an ninh, thực hiện các chính sách vĩ mô tích cực và hiệu quả hơn, và thúc đẩy xây dựng thị trường quốc gia thống nhất. Nền kinh tế quốc dân vận hành dưới áp lực, tiến tới chất lượng cao mới, đạt được kết quả mới trong phát triển chất lượng cao, hoàn thành thành công các mục tiêu và nhiệm vụ chính về phát triển kinh tế xã hội, và kết thúc thắng lợi Kế hoạch 5 năm lần thứ 14.
Tính toán sơ bộ cho thấy GDP cả năm là 140.187,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 5,0% so với năm trước theo giá so sánh. Theo ngành, giá trị gia tăng ngành nông nghiệp là 9.334,7 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 3,9% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp là 49.965,3 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 4,5%; và ngành dịch vụ là 80.887,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 5,4%. Theo quý, GDP tăng 5,4% so với cùng kỳ quý 1, 5,2% quý 2, 4,8% quý 3 và 4,5% quý 4. So với quý trước, GDP quý 4 tăng 1,2%.
I. Sản lượng lương thực tăng và thu hoạch bội thu, sản xuất chăn nuôi phát triển ổn định
Tổng sản lượng lương thực cả nước trong năm là 714,88 triệu tấn, tăng 8,38 triệu tấn, tương đương tăng 1,2% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng lương thực vụ hè là 149,75 triệu tấn, giảm 0,1%; sản lượng lúa sớm là 28,51 triệu tấn, tăng 1,2%; và sản lượng lương thực vụ thu là 536,62 triệu tấn, tăng 1,5%. Theo loại, sản lượng lúa mì là 140,07 triệu tấn, gần như không đổi; sản lượng ngô là 301,24 triệu tấn, tăng 2,1%; sản lượng gạo là 209,04 triệu tấn, tăng 0,7%; và sản lượng đậu tương là 20,91 triệu tấn, tăng 1,3%. Sản lượng thịt lợn, thịt bò, thịt cừu và thịt gia cầm cả năm là 100,72 triệu tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, lần đầu tiên vượt quá 100 triệu tấn. Trong đó, sản lượng thịt lợn là 59,38 triệu tấn, tăng 4,1%; sản lượng thịt bò là 8,01 triệu tấn, tăng 2,8%; sản lượng thịt cừu là 4,96 triệu tấn, giảm 4,2%; và sản lượng thịt gia cầm là 28,37 triệu tấn, tăng 6,7%. Sản lượng sữa đạt 40,91 triệu tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng trứng gia cầm là 34,98 triệu tấn, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong cả năm, tổng số lợn xuất chuồng là 719,73 triệu con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số lợn tồn chuồng vào cuối năm là 429,67 triệu con, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.
II. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tương đối nhanh, chế tạo thiết bị và chế tạo công nghệ cao có động lực tăng trưởng tốt hơn
Giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn trên toàn quốc tăng 5,9% so với năm trước. Theo ba khu vực, giá trị gia tăng của ngành khai khoáng tăng 5,6%, chế tạo tăng 6,4%, và sản xuất và cung cấp điện, nhiệt, khí đốt và nước tăng 2,3%. Giá trị gia tăng của ngành chế tạo thiết bị tăng 9,2%, và của ngành chế tạo công nghệ cao tăng 9,4%, với tốc độ tăng trưởng lần lượt cao hơn 3,3 và 3,5 điểm phần trăm so với các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn. Theo loại hình sở hữu, giá trị gia tăng của doanh nghiệp nhà nước tăng 4,6%; của doanh nghiệp cổ phần tăng 6,3%; của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan tăng 3,9%; và của doanh nghiệp tư nhân tăng 5,3%. Về sản phẩm, sản lượng sản xuất thiết bị in 3D, robot công nghiệp và xe năng lượng mới lần lượt tăng 52,5%, 28,0% và 25,1%. Tháng 12, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn tăng 5,2% so với cùng kỳ và tăng 0,49% so với tháng trước. Tháng 12, chỉ số PMI sản xuất đạt 50,1%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước; chỉ số phụ về kỳ vọng hoạt động sản xuất kinh doanh đạt 55,5%, tăng 2,4 điểm phần trăm. Từ tháng 1 đến tháng 11, tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn trên toàn quốc đạt 6.626,9 tỷ nhân dân tệ, tăng 0,1% so với cùng kỳ.
III. Khu vực dịch vụ phát triển ổn định, dịch vụ hiện đại phát triển tốt
Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng 5,4% so với năm trước. Cụ thể, giá trị gia tăng của các ngành truyền thông, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin; cho thuê và dịch vụ kinh doanh; vận tải, kho bãi và bưu chính; bán buôn và bán lẻ; dịch vụ lưu trú và ăn uống lần lượt tăng 11,1%, 10,3%, 5,2%, 5,0% và 4,9%. Tháng 12, chỉ số sản xuất khu vực dịch vụ tăng 5,0% so với cùng kỳ. Cụ thể, chỉ số sản xuất của các ngành truyền thông, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin; cho thuê và dịch vụ kinh doanh; dịch vụ tài chính lần lượt tăng 14,8%, 11,3% và 6,5%. Từ tháng 1 đến tháng 11, doanh thu hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ quy mô lớn tăng 7,8% so với cùng kỳ. Tháng 12, chỉ số hoạt động kinh doanh khu vực dịch vụ đạt 49,7%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước; chỉ số kỳ vọng hoạt động kinh doanh khu vực dịch vụ đạt 56,4%, tăng 0,5 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số hoạt động kinh doanh của các ngành như dịch vụ truyền thông, phát thanh truyền hình và truyền dẫn vệ tinh; dịch vụ tài chính tiền tệ; dịch vụ thị trường vốn đều ở vùng mở rộng cao trên 60,0%.
IV. Quy mô tiêu thụ thị trường mở rộng, doanh thu bán lẻ dịch vụ tăng trưởng nhanh
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng cả năm đạt 50.120,2 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Phân theo địa bàn kinh doanh, doanh thu bán lẻ đô thị đạt 43.297,2 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,6% so với cùng kỳ; doanh thu bán lẻ nông thôn đạt 6.823 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Phân theo loại hình tiêu dùng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 44.322 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,8% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 5.798,2 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Tiêu thụ hàng hóa thiết yếu và một số mặt hàng nâng cấp có đà tăng trưởng khá. Trong cả năm, doanh thu bán lẻ của các đơn vị quy mô lớn về thiết bị viễn thông, văn phòng phẩm và đồ dùng văn hóa, hàng hóa thể thao giải trí, thiết bị gia dụng và nghe nhìn, lương thực thực phẩm và dầu ăn lần lượt tăng 20,9%, 17,3%, 15,7%, 11,0% và 9,3%. Doanh thu bán lẻ trực tuyến toàn quốc đạt 15.972,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ trực tuyến hàng hóa hữu hình đạt 13.092,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2%, chiếm 26,1% tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng. Tháng 12, tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng tăng 0,9% so với cùng kỳ nhưng giảm 0,12% so với tháng trước. Doanh thu bán lẻ dịch vụ cả năm tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí; dịch vụ viễn thông và thông tin; dịch vụ tư vấn du lịch và cho thuê; cùng dịch vụ vận tải tăng trưởng khá.
V. Đầu tư tài sản cố định giảm so với cùng kỳ, đầu tư sản xuất chế tạo duy trì tăng trưởng
Tổng mức đầu tư tài sản cố định toàn quốc (không bao gồm hộ nông thôn) cả năm đạt 48.518,6 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% so với cùng kỳ; nếu loại trừ đầu tư phát triển bất động sản, đầu tư tài sản cố định toàn quốc giảm 0,5%. Phân theo lĩnh vực, đầu tư cơ sở hạ tầng giảm 2,2%, đầu tư sản xuất chế tạo tăng 0,6%, đầu tư phát triển bất động sản giảm 17,2%. Diện tích nhà ở thương mại mới bán trên toàn quốc là 881,01 triệu m², giảm 8,7%; doanh thu bán nhà ở thương mại mới đạt 8.393,7 nghìn tỷ đồng, giảm 12,6%. Phân theo ngành, đầu tư ngành sơ cấp tăng 2,3%, đầu tư ngành thứ cấp tăng 2,5%, đầu tư ngành tam cấp giảm 7,4%. Đầu tư khu vực tư nhân giảm 6,4%; nếu loại trừ đầu tư phát triển bất động sản, đầu tư tư nhân giảm 1,9%. Trong các ngành công nghệ cao, đầu tư vào dịch vụ thông tin và sản xuất thiết bị máy bay, tàu vũ trụ lần lượt tăng 28,4% và 16,9%. Tháng 12, đầu tư tài sản cố định (không bao gồm hộ nông thôn) giảm 1,13% so với tháng trước.
VI. Xuất nhập khẩu hàng hóa tăng trưởng ổn định, cơ cấu thương mại tiếp tục được tối ưu
Tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa cả năm đạt 45.468,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 26.989,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%; nhập khẩu đạt 18.479,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5%. Nhập khẩu và xuất khẩu của doanh nghiệp tư nhân tăng 7,1%, chiếm 57,3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng 1,8 điểm phần trăm so với năm trước. Kim ngạch xuất nhập khẩu với các nước cùng xây dựng Vành đai và Con đường tăng 6,3%, chiếm 51,9% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao tăng 13,2%. Trong tháng 12, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 4.263 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 2.535,9 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,2%; nhập khẩu đạt 1.727,1 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,4%.
VII. Giá tiêu dùng ổn định nhìn chung, CPI lõi phục hồi nhẹ
Trong cả năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giữ ổn định so với năm trước. Theo nhóm hàng, giá thực phẩm, thuốc lá và rượu bia giảm 0,7%; giá quần áo tăng 1,5%; giá nhà ở tăng 0,1%; giá đồ dùng và dịch vụ gia đình tăng 0,9%; giá giao thông và liên lạc giảm 2,6%; giá giáo dục, văn hóa và giải trí tăng 0,8%; giá chăm sóc sức khỏe tăng 0,8%; giá các hàng hóa và dịch vụ khác tăng 9,3%. Trong nhóm thực phẩm, thuốc lá và rượu bia, giá thịt lợn giảm 6,1%, giá rau tươi giảm 3,9%, giá ngũ cốc giảm 1,0%, giá trái cây tươi tăng 1,2%. CPI lõi (loại trừ thực phẩm và năng lượng) tăng 0,7%, tốc độ tăng mở rộng 0,2 điểm phần trăm so với năm trước. Tháng 12, giá tiêu dùng tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước; tăng 0,2% so với tháng trước. Cả năm, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,6% so với năm trước; tháng 12 giảm 1,9% so với cùng kỳ và tăng 0,2% so với tháng trước. Cả năm, giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,0% so với năm trước; tháng 12 giảm 2,1% so với cùng kỳ và tăng 0,4% so với tháng trước.
VIII. Tình hình việc làm ổn định nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp thành thị được điều tra ổn định
Tỷ lệ thất nghiệp thành thị được điều tra bình quân cả năm trên toàn quốc là 5,2%. Tháng 12, tỷ lệ thất nghiệp thành thị được điều tra trên toàn quốc là 5,1%. Tỷ lệ thất nghiệp được điều tra của lực lượng lao động đã đăng ký tại địa phương là 5,3%; tỷ lệ này của lực lượng lao động đã đăng ký từ nơi khác đến là 4,7%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp được điều tra của lực lượng lao động nông nghiệp đã đăng ký từ nơi khác đến là 4,4%. Tỷ lệ thất nghiệp đô thị được điều tra tại 31 thành phố lớn là 5,1%. Số giờ làm việc trung bình hàng tuần của người lao động tại các doanh nghiệp trên toàn quốc là 48,6 giờ. Tổng số lao động nhập cư trong cả năm là 301,15 triệu người, tăng 1,42 triệu người, tức tăng 0,5% so với năm trước. Trong đó, số lao động nhập cư tại địa phương là 121,09 triệu người, tăng 0,1%, còn số lao động nhập cư làm việc bên ngoài quê hương là 180,06 triệu người, tăng 0,8%.
IX. Thu nhập của cư dân tiếp tục tăng trưởng, thu nhập của cư dân nông thôn tăng nhanh hơn cư dân thành thị
Thu nhập khả dụng bình quân đầu người cả nước trong năm là 43.377 nhân dân tệ, tăng danh nghĩa 5,0% so với năm trước, và tăng thực tế 5,0% sau khi loại trừ yếu tố giá. Theo nơi cư trú, thu nhập khả dụng bình quân đầu người của hộ gia đình thành thị là 56.502 nhân dân tệ, tăng danh nghĩa 4,3% và tăng thực tế 4,2% so với năm trước; thu nhập khả dụng bình quân đầu người của hộ gia đình nông thôn là 24.456 nhân dân tệ, tăng danh nghĩa 5,8% và tăng thực tế 6,0%. Thu nhập khả dụng bình quân đầu người trung vị của dân số cả nước là 36.231 nhân dân tệ, tăng danh nghĩa 4,4%. Phân theo nhóm ngũ phân vị thu nhập, thu nhập khả dụng bình quân đầu người của nhóm thu nhập thấp là 10.150 nhân dân tệ, nhóm thu nhập trung bình thấp là 22.702 nhân dân tệ, nhóm thu nhập trung bình là 35.536 nhân dân tệ, nhóm thu nhập trung bình cao là 55.586 nhân dân tệ, và nhóm thu nhập cao là 103.778 nhân dân tệ. Chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người của dân số cả nước trong năm là 29.476 nhân dân tệ, tăng danh nghĩa 4,4%, hoặc tăng thực tế 4,4% sau khi loại trừ yếu tố giá. Tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống, thuốc lá và rượu bia trong chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người (hệ số Engel) là 29,3%, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm trước; chi tiêu cho dịch vụ bình quân đầu người tăng 4,5%, chiếm 46,1% chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người, bằng với năm trước.
X. Tổng dân số giảm nhẹ, tỷ lệ đô thị hóa tiếp tục tăng
Dân số cả nước vào cuối năm (bao gồm dân số của 31 tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương và quân nhân, không bao gồm cư dân Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan và người nước ngoài cư trú tại 31 tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương) là 1,4049 tỷ người, giảm 3,39 triệu người so với cuối năm trước. Số trẻ sinh ra là 7,92 triệu, với tỷ suất sinh thô là 5,63‰; số người chết là 11,31 triệu, với tỷ suất chết thô là 8,04‰; tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên là -2,41‰. Về giới tính, dân số nam là 716,85 triệu, dân số nữ là 688,04 triệu, tỷ lệ giới tính là 104,19 (nữ = 100). Về cơ cấu tuổi, dân số từ 16–59 tuổi là 851,36 triệu, chiếm 60,6% dân số cả nước; dân số từ 60 tuổi trở lên là 323,38 triệu, chiếm 23,0%, trong đó dân số từ 65 tuổi trở lên là 223,65 triệu, chiếm 15,9%. Về cơ cấu thành thị - nông thôn, dân số thường trú thành thị là 953,8 triệu, tăng 10,3 triệu so với cuối năm trước; dân số thường trú nông thôn là 451,09 triệu, giảm 13,69 triệu; tỷ trọng dân số thành thị trong dân số cả nước (tỷ lệ đô thị hóa) là 67,89%, tăng 0,89 điểm phần trăm so với cuối năm trước. Về trình độ học vấn, số năm đi học bình quân của dân số từ 16–59 tuổi đạt 11,3 năm, tăng 0,1 năm so với năm trước.
Nhìn chung, năm 2025, nền kinh tế quốc dân đã chịu được nhiều sức ép và duy trì xu hướng phát triển ổn định, tiến bộ, đạt được những kết quả mới trong phát triển chất lượng cao. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tác động của những thay đổi trong môi trường bên ngoài đã sâu sắc hơn, tình trạng mất cân đối cung-cầu trong nước vẫn nổi bật, và vẫn còn nhiều vấn đề cũ và thách thức mới trong phát triển kinh tế. Trong giai đoạn tới, chúng ta phải kiên trì lấy Tư tưởng Xã Jinping về Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới làm chỉ đạo, triển khai toàn diện tinh thần Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc và các phiên họp toàn thể, cũng như các yêu cầu triển khai của Hội nghị Công tác Kinh tế Trung ương. Chúng ta sẽ tuân thủ nguyên tắc tìm kiếm tiến bộ trong ổn định, nâng cao chất lượng và hiệu quả, thực hiện các chính sách vĩ mô tích cực hơn và hiệu quả hơn, không ngừng mở rộng nhu cầu nội địa và tối ưu hóa nguồn cung, cải thiện tăng trưởng gia tăng và làm sống động các nguồn lực hiện có, phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới phù hợp với điều kiện địa phương, thúc đẩy xây dựng thị trường quốc gia thống nhất ở mức độ sâu hơn, thúc đẩy cải thiện chất lượng hiệu quả và tăng trưởng định lượng hợp lý trong nền kinh tế, và đảm bảo một khởi đầu tốt và bước đi vững chắc cho Kế hoạch 5 năm lần thứ 15.