Ngày 9 tháng 1 - Tin tức:
Cảng phía Bắc: Quặng sắt cao Nam Phi 30-32,1 nhân dân tệ/mtu, tăng 2,64% so với trước kỳ nghỉ; Bán carbonate Nam Phi 35,5-36 nhân dân tệ/mtu, tăng 4,38%; Quặng cục Gabon 43-43,6 nhân dân tệ/mtu, tăng 0,23%; Quặng cục Úc 46% 43,9-44,4 nhân dân tệ/mtu, tăng 1,15%; Quặng sắt trung bình Nam Phi 38,1-38,6 nhân dân tệ/mtu, tăng 2,68%.
Cảng phía Nam: Quặng sắt cao Nam Phi 31,8-32,3 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với trước kỳ nghỉ; Bán carbonate Nam Phi 35,3-36 nhân dân tệ/mtu, tăng 0,56% so với tháng trước; Quặng cục Gabon 41,5-42 nhân dân tệ/mtu, đi ngang; Quặng cục Úc 46% 41,5-42,2 nhân dân tệ/mtu, tăng 0,72%; Quặng sắt trung bình Nam Phi 38,9-39,4 nhân dân tệ/mtu, tăng 3,98%.
Sau kỳ nghỉ, giá thị trường quặng mangan tiếp tục xu hướng vững, với giá giao dịch giao ngay các loại cấp khác nhau tăng với biên độ khác nhau trong tuần này.
Về phía cung, định giá giao ngay tuần này được neo theo chào giá kỳ hạn nước ngoài tháng 1/2026, trong khi kỳ vọng biến động giá được định hướng bởi chào giá kỳ hạn nước ngoài tháng 2/2026. Chào giá thị trường nước ngoài mạnh, chào giá kỳ hạn tháng 1/2026 tăng trước; các công ty khai thác lớn đồng loạt nâng chào giá tháng 2 cho Trung Quốc. Consolidated Minerals Ltd. (CML) chào bán quặng cục Úc ở mức 5,2 USD/mtu, tăng 0,2 USD/mtu so với tháng trước, trong khi Compagnie Minière de l'Ogooué (Comilog) chào bán quặng cục Gabon giao hàng tháng 2 cho Trung Quốc ở mức 4,9 USD/mtu, cũng tăng 0,2 USD/mtu so với tháng trước. Mức tăng chào giá nước ngoài đã cung cấp hỗ trợ vững chắc cho đà tăng giá giao ngay quặng mangan trong nước.
Về phía cầu có dấu hiệu phục hồi, hoạt động thăm dò ở cả thị trường miền Bắc và miền Nam đều tăng cường so với mức trước kỳ nghỉ. Về phía kỳ hạn, diễn biến mạnh gần đây của hợp đồng tương lai SiMn tạo ra tâm lý thị trường ấm lên, thúc đẩy hiệu quả nhiệt tình thăm dò quặng mangan nguyên liệu từ các doanh nghiệp SiMn. Diễn biến thị trường giao ngay không đồng đều. Ở miền Bắc, các nhà sản xuất SiMn duy trì nhịp độ thu mua ổn định, cung cấp hỗ trợ bền vững cho nhu cầu quặng mangan; ở miền Nam, các nhà máy hợp kim tiếp tục chiến lược "mua theo nhu cầu", đẩy giá mua quặng mangan lên cao hơn một chút dưới mô hình thủ công.
Phía tồn kho thể hiện đặc điểm cấu trúc, với xu hướng tích lũy rõ rệt tại cảng Tân Châu. Nguyên nhân chính là do tỷ lệ vận hành của các nhà máy hợp kim hạ nguồn ở thị trường miền Nam Trung Quốc thấp, dẫn đến nhu cầu thu mua nguyên liệu thô yếu. Tỷ lệ quặng mangan về cảng vượt quá tỷ lệ lấy hàng tại cảng, từng bước đẩy cao mức tồn kho quặng mangan.
Nhìn chung, giá thị trường quặng mangan nội địa hiện nay đang biến động ở mức cao. Trong ngắn hạn, sự hỗ trợ từ nguồn cung do giá chào thị trường nước ngoài tăng vẫn duy trì, và giá quặng mangan dự kiến sẽ tiếp tục xu hướng vững. Tuy nhiên, hai rủi ro tiềm ẩn cần được lưu ý: thứ nhất, nhu cầu yếu ở miền Nam chưa được cải thiện, và thứ hai, áp lực tồn kho tại cảng đang dần tích lũy. Những yếu tố này có thể tạo ra hiệu ứng phản hồi tiêu cực, từ đó kìm hãm giá quặng mangan và kích hoạt một đợt điều chỉnh giảm.



