Tổng cục Thống kê (NBS): Chỉ số CPI tháng 12 tăng 0,8% so với cùng kỳ, đà tăng PPI theo tháng mở rộng

Đã xuất bản: Jan 9, 2026 09:45

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê (NBS),tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn quốc tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.Cụ thể, giá tại khu vực thành thị tăng 0,9%, trong khi giá tại khu vực nông thôn tăng 0,6%; giá thực phẩm tăng 1,1%, giá phi thực phẩm tăng 0,8%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,0%, giá dịch vụ tăng 0,6%. Trong cả năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc giữ nguyên so với năm trước.

Tháng 12 năm 2025, giá xuất xưởng của các nhà sản xuất công nghiệp toàn quốc giảm 1,9% so với cùng kỳ, với tốc độ giảm thu hẹp 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước;so với tháng trước, giá tăng 0,2%, với tốc độ tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,1% so với cùng kỳ, tốc độ giảm thu hẹp 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước; giá tăng 0,4% so với tháng trước, tốc độ tăng mở rộng 0,3 điểm phần trăm. Cả năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,6%, giá mua vào giảm 3,0%.

Bà Đông Lệ Quyên, Chuyên gia thống kê chính của Cục Đô thị thuộc Tổng cục Thống kê (NBS), đã phân tích số liệu CPI và PPI tháng 12 năm 2025.

Giá tiêu dùng tháng 12/2025 tăng 0,8% so với cùng kỳ

Tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn quốc tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá khu vực thành thị tăng 0,9%, giá khu vực nông thôn tăng 0,6%; giá thực phẩm tăng 1,1%, giá phi thực phẩm tăng 0,8%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,0%, giá dịch vụ tăng 0,6%.

Tháng 12, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc tăng 0,2% so với tháng trước. Cụ thể, giá thành thị tăng 0,2%, giá nông thôn tăng 0,2%; giá thực phẩm tăng 0,3%, giá phi thực phẩm tăng 0,1%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,3%, giá dịch vụ giữ nguyên.

Cả năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc không thay đổi so với năm trước.

image

I. Biến động giá các mặt hàng và dịch vụ so với cùng kỳ năm trước

Trong tháng 12, giá thực phẩm, thuốc lá và đồ uống tăng 0,8% so với cùng kỳ, đóng góp khoảng 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng CPI. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi tăng 18,2%, đóng góp khoảng 0,39 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; giá trái cây tươi tăng 4,4%, đóng góp khoảng 0,09 điểm phần trăm; giá thủy sản tăng 1,6%, đóng góp khoảng 0,03 điểm phần trăm; giá trứng giảm 12,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,09 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 6,1%, kéo CPI giảm khoảng 0,19 điểm phần trăm (trong đó giá thịt lợn giảm 14,6%, làm CPI giảm 0,20 điểm phần trăm); và giá ngũ cốc giảm 0,3%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm.

Trong bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại, năm nhóm ghi nhận mức tăng giá và hai nhóm ghi nhận mức giảm giá so với cùng kỳ. Cụ thể, giá các mặt hàng và dịch vụ khác, đồ dùng và dịch vụ gia đình, và chăm sóc sức khỏe lần lượt tăng 17,4%, 2,2% và 1,8%, trong khi giá quần áo, và giáo dục, văn hóa và giải trí lần lượt tăng 1,7% và 0,9%; giá giao thông và truyền thông, và nhà ở lần lượt giảm 2,6% và 0,2%.

image

II. Biến động giá các mặt hàng và dịch vụ so với tháng trước

Trong tháng 12, giá thực phẩm, thuốc lá và đồ uống tăng 0,2% so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng CPI. Trong nhóm thực phẩm, giá trái cây tươi tăng 2,6%, đóng góp khoảng 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; giá rau tươi tăng 0,8%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 0,8%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm vào mức giảm CPI, trong đó giá thịt lợn giảm 1,7%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm vào mức giảm CPI.

Trong bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại, bốn nhóm ghi nhận mức tăng giá, hai nhóm giữ nguyên và một nhóm ghi nhận mức giảm giá so với tháng trước. Cụ thể, giá các mặt hàng và dịch vụ khác và đồ dùng và dịch vụ gia đình lần lượt tăng 2,8% và 0,4%, trong khi giá giáo dục, văn hóa và giải trí và chăm sóc sức khỏe cùng tăng 0,1%; giá quần áo và giao thông và truyền thông giữ nguyên; giá nhà ở giảm 0,1%.

image

image

Tháng 12 năm 2025, Giảm Giá Sản Xuất Công Nghiệp So Cùng Kỳ Thu Hẹp, Tăng So Tháng Trước Mở Rộng

Tháng 12 năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp toàn quốc giảm 1,9% so với cùng kỳ, mức giảm thu hẹp 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước; tăng 0,2% so với tháng trước, mức tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,1% so với cùng kỳ, mức giảm thu hẹp 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước; tăng 0,4% so với tháng trước, mức tăng mở rộng 0,3 điểm phần trăm. Cả năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,6%, giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,0%.

image

image

I. Biến Động Giá Nhà Sản Xuất Công Nghiệp So Cùng Kỳ

Trong tháng 12, trong giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giảm 2,1%, đóng góp khoảng 1,53 điểm phần trăm vào mức giảm chung của chỉ số giá xuất xưởng. Trong đó, giá ngành khai khoáng giảm 4,7%, giá ngành nguyên liệu giảm 2,6%, giá ngành chế biến giảm 1,6%. Giá tư liệu sinh hoạt giảm 1,3%, đóng góp khoảng 0,35 điểm phần trăm vào mức giảm chung của chỉ số giá xuất xưởng. Trong đó, giá thực phẩm giảm 1,5%, giá quần áo giảm 0,1%, giá hàng tiêu dùng thông thường tăng 1,4%, giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 3,5%.

image

image

Trong giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp, giá vật liệu xây dựng và sản phẩm phi kim loại giảm 6,4%, giá nhiên liệu, động lực giảm 5,7%, giá nguyên liệu hóa chất giảm 4,9%, giá sản phẩm nông lâm nghiệp giảm 4,1%, giá kim loại đen giảm 3,3%, giá nguyên liệu dệt giảm 1,9%; giá kim loại màu và dây cáp tăng 10,5%.

II. Biến Động Giá Nhà Sản Xuất Công Nghiệp So Tháng Trước

Trong tháng 12, giá xuất xưởng tư liệu sản xuất tăng 0,3% so với tháng trước, thúc đẩy chỉ số giá xuất xưởng chung tăng khoảng 0,24 điểm phần trăm. Cụ thể, giá sản phẩm khai khoáng tăng 0,8%, giá nguyên liệu thô công nghiệp tăng 0,6%, giá ngành chế biến tăng nhẹ 0,2%. Giá hàng tiêu dùng giữ ổn định. Trong nhóm này, giá thực phẩm giảm 0,1%, giá quần áo tăng 0,2%, giá hàng tiêu dùng thông thường tăng 0,5%, giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 0,2%.

Về giá nguyên liệu đầu vào, giá kim loại màu và dây cáp tăng 2,5%, giá nhiên liệu - năng lượng tăng 1,5%, giá vật liệu xây dựng và phi kim loại tăng 0,1%. Ngược lại, giá kim loại đen giảm 0,4%, giá nguyên liệu hóa chất giảm 0,2%, giá nông sản và nguyên liệu dệt may cùng giảm 0,1%.

image

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2025 tiếp tục tăng, chỉ số giá sản xuất thu hẹp mức giảm

—Bà Đổng Lệ Quyên, Cục trưởng Cục Thống kê Đô thị (Tổng cục Thống kê) phân tích số liệu CPI và PPI tháng 12/2025

Tháng 12, chính sách mở rộng nhu cầu nội địa và thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục phát huy hiệu quả, cùng với dịp Tết Dương lịch đến gần khiến nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 0,8% so với cùng kỳ. CPI lõi (loại trừ thực phẩm và năng lượng) tăng 1,2% so với cùng kỳ. Dưới tác động của yếu tố lan tỏa giá hàng hóa quốc tế và hiệu quả duy trì chính sách điều chỉnh sản lượng ngành then chốt trong nước, chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 0,2% so với tháng trước nhưng giảm 1,9% so với cùng kỳ.

I. CPI chuyển từ giảm sang tăng so với tháng trước, tốc độ tăng cùng kỳ tiếp tục mở rộng, CPI lõi tăng 1,2%

CPI chuyển từ mức giảm 0,1% tháng trước sang tăng 0,2% so với tháng trước. Mức tăng chủ yếu do giá hàng tiêu dùng công nghiệp (loại trừ năng lượng) tăng. Giá nhóm hàng này tăng 0,6%, đóng góp khoảng 0,16 điểm phần trăm vào mức tăng CPI tháng. Cụ thể, chính sách kích cầu tiếp tục phát huy tác dụng, cùng với dịp Tết Dương lịch khiến nhu cầu mua sắm - giải trí của người dân tăng, dẫn đến giá thiết bị viễn thông, sản phẩm mẹ và bé, hàng giải trí lâu bền và thiết bị gia dụng tăng trong khoảng 1,4%-3,0%. Dưới tác động của giá vàng thế giới tăng, giá trang sức vàng trong nước đã tăng mạnh 5,6%. Giá năng lượng giảm 0,5%; chịu ảnh hưởng từ biến động giá dầu quốc tế, giá xăng trong nước giảm 1,2%, kéo chỉ số CPI giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá thực phẩm tăng 0,3%, đóng góp khoảng 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng CPI hàng tháng. Trong đó, nhu cầu tiêu dùng dịp lễ tăng khiến giá trái cây tươi và tôm/cua lần lượt tăng 2,6% và 2,5%; điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi nên giá rau củ tươi tăng 0,8%, mức tăng thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với mùa vụ; nguồn cung heo hơi dồi dào khiến giá thịt lợn giảm 1,7%.

CPI tăng 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, phục hồi về mức cao nhất kể từ tháng 3/2023. Sự mở rộng tăng trưởng năm chủ yếu do mức tăng giá thực phẩm lớn hơn. Giá thực phẩm tăng 1,1%, tốc độ tăng mở rộng 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp thêm khoảng 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ so với tháng trước. Trong nhóm thực phẩm, mức tăng giá rau củ tươi và trái cây tươi lần lượt mở rộng lên 18,2% và 4,4%, cùng đóng góp thêm khoảng 0,16 điểm phần trăm vào CPI so với cùng kỳ so với tháng trước; giá thịt bò, thịt cừu và thủy sản tăng lần lượt 6,9%, 4,4% và 1,6%, đều ghi nhận mức tăng mở rộng; giá thịt lợn giảm 14,6%, mức giảm thu hẹp nhẹ. Giá năng lượng giảm 3,8%, mức giảm mở rộng 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước, trong đó giá xăng giảm 8,4% với biên độ giảm gia tăng. CPI lõi (loại trừ thực phẩm và năng lượng) tăng 1,2% so với cùng kỳ, duy trì mức tăng trên 1% trong tháng thứ tư liên tiếp. Giá dịch vụ tăng 0,6%, đóng góp khoảng 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Trong đó, giá dịch vụ gia đình tăng 1,2%; giá thuê nhà giảm 0,3%. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp (không bao gồm năng lượng) tăng 2,5%, đóng góp khoảng 0,63 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Trong đó, giá trang sức vàng tiếp tục mở rộng, tăng 68,5%; giá đồ gia dụng và vật dụng gia đình hàng ngày lần lượt tăng 5,9% và 3,2%, cả hai đều ghi nhận mức tăng mở rộng; giá ô tô động cơ đốt trong và ô tô năng lượng mới lần lượt giảm 2,4% và 2,2%, mức giảm thu hẹp.

II. Chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng theo tháng mở rộng, giảm theo năm thu hẹp

PPI tăng 0,2% so với tháng trước, đánh dấu tháng thứ ba liên tiếp tăng, với tốc độ tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Đặc điểm chính trong biến động PPI tháng này: Thứ nhất, cơ cấu cung-cầu được cải thiện thúc đẩy giá tăng ở một số ngành. Tác động liên tục của quản lý năng lực và chấn chỉnh toàn diện trật tự cạnh tranh thị trường trong các ngành then chốt tiếp tục phát huy hiệu quả, giá khai thác và rửa than, cùng giá chế biến than lần lượt tăng 1,3% và 0,8% so với tháng trước, cả hai đều tăng trong tháng thứ năm liên tiếp; giá sản xuất pin lithium-ion tăng 1,0%, giá sản xuất xi măng tăng 0,5%, cả hai đều tăng trong tháng thứ ba liên tiếp; giá sản xuất xe ô tô năng lượng mới chuyển từ mức giảm 0,2% tháng trước sang tăng 0,1%. Nhu cầu theo mùa tăng lên thúc đẩy giá sản xuất và cung cấp khí đốt, cùng sản xuất và cung cấp điện và nhiệt điện lần lượt tăng 1,2% và 1,0%; giá chế biến lông vũ và nhuộm hoàn tất dệt len lần lượt tăng 1,2% và 1,0%. Thứ hai, yếu tố nhập khẩu dẫn đến xu hướng giá phân hóa trong các ngành kim loại màu và dầu khí trong nước. Giá kim loại màu quốc tế tăng đã thúc đẩy giá khai thác và tuyển khoáng kim loại màu trong nước, cũng như giá luyện và cán tăng lần lượt 3,7% và 2,8% so với tháng trước, với giá luyện bạc, luyện vàng, luyện đồng và luyện nhôm lần lượt tăng 13,5%, 4,8%, 4,6% và 0,9%. Giá dầu thô quốc tế giảm dẫn đến mức giảm lần lượt 2,3% và 0,9% trong giá khai thác dầu mỏ và giá sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế trong nước.

PPI giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Chính sách kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục phát huy hiệu quả, một số ngành có biến động giá tích cực. Thứ nhất, việc xây dựng thị trường toàn quốc thống nhất được đẩy mạnh, mức giảm giá các ngành liên quan theo năm đã thu hẹp trong nhiều tháng liên tiếp. Khi trật tự cạnh tranh thị trường không ngừng được cải thiện, mức giảm giá trong khai thác và rửa than, sản xuất pin lithium-ion, cùng sản xuất thiết bị và linh kiện điện mặt trời lần lượt thu hẹp 2,9, 1,2 và 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước, đánh dấu tháng thứ năm, thứ tư và thứ chín liên tiếp thu hẹp. Thứ hai, việc thúc đẩy các lực lượng sản xuất mới chất lượng đã thúc đẩy mức tăng giá theo năm trong các ngành liên quan. Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của các ngành liên quan đến kinh tế số, mở rộng nhanh chóng trong sản xuất nguyên liệu và vật liệu mới, cùng sự hỗ trợ liên tục từ chuyển đổi xanh, giá đã tăng đối với thiết bị và linh kiện lưu trữ ngoài (15,3%), nhiên liệu lỏng sinh khối (9,0%), sản xuất sản phẩm graphit và carbon (5,5%), vi mạch tích hợp hoàn chỉnh (2,4%), tận dụng tổng hợp tài nguyên thải (0,9%) và sản xuất robot tiêu dùng dịch vụ (0,4%). Thứ ba, việc giải phóng hiệu quả tiềm năng tiêu dùng đã thúc đẩy mức tăng giá theo năm trong các ngành liên quan. Khi các sáng kiến kích cầu được triển khai, tiêu dùng văn hóa, thể thao và chất lượng tăng trưởng nhanh chóng, thúc đẩy giá tăng đối với sản xuất sản phẩm nghệ thuật, thủ công và nghi lễ (23,3%), sản xuất bóng thể thao (4,0%), sản xuất nhạc cụ truyền thống Trung Quốc (2,0%) và sản xuất thực phẩm dinh dưỡng (1,5%).

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tổng cục Thống kê (NBS): Chỉ số CPI tháng 12 tăng 0,8% so với cùng kỳ, đà tăng PPI theo tháng mở rộng - Shanghai Metals Market (SMM)