[Phân tích SMM] Giải thích Dữ liệu Xuất khẩu Thép Tháng 10

Đã xuất bản: Nov 27, 2025 18:14
Nguồn: SMM
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan do SMM t tổng hợp, tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025 đạt 109,653 triệu tấn, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm ngoái. Philippines ghi nhận mức tăng trưởng tích lũy lớn nhất so với cùng kỳ, tăng 1,424 triệu tấn (tương đương mức tăng trưởng 30,12%).

[Phân tích SMM] Giải thích Dữ liệu Xuất khẩu Thép Tháng 10

Ø Theo Quốc gia: Philippines Thể hiện Hiệu suất Mạnh Mẽ, Trong khi Việt Nam Vẫn Dẫn đầu về Tăng trưưởng Âm

Theo dữ liệu t tổng hợp từ Tổng cục Hải quan của SMM, t tổng kim ngạch xuất khẩu thép của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025 đạt 109,653 triệu tấn, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm ngoái. Philippines ghi nhận mức tăng trưởng tích lũy lớn nhất so với cùng kỳ năm ngoái, tăng 1,424 triệu tấn (tăng trưởng 30,12%).

Cụ thể, trong tất cả các danh mục sản phẩm thép xuất khẩu sang Philippines vào tháng 10, phôi thép dẫn đầu với t tỷ trọng 34%, tiếp theo là các sản phẩm mạ và mạ kẽm ở mức 32%, cùng chiếm phần lớn. Đáng chú ý, các sản phẩm mạ và mạ kẽm đã liên tục thống trị nhập khẩu thép của Philippines từ Trung Quốc trong năm nay, với kim ngạch nhập khẩu hàng tháng ổn định từ Trung Quốc vào khoảng 200.000-250.000 tấn, vượt quá 300.000 tấn vào tháng 9. Nguyên nhân chính đằng sau điều này là thời kỳ cao điểm của xây dựng cơ sở hạ tầng (chẳng hạn như chương trình "Xây dựng, Xây dựng, Xây dựng") và phát triển bất động sản ở Philippines, thúc đẩy nhu cầu mạnh mẽ đối với các sản phẩm thép như tấm mạ màu và tấm mạ kẽm được sử dụng trong xây dựng. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp sản xuất địa phương, bao gồm đồ gia dụng và ô tô, đã làm tăng nhu cầu về các tấm thép mạ và mạ kẽm chất lượng cao. Mặc dù các dây chuyền sản xuất mạ kẽm nhúng nóng tại địa phương đã được đưa vào vận hành thành công ở Philippines để sản xuất tại chỗ các tấm và cuộn thép mạ kẽm cho lĩnh vực xây dựng, công suất hiện có vẫn còn tương đối hạn chế. Trước nhu cầu ngày càng tăng nhanh từ các lĩnh vực xây dựng và sản xuất ở Philippines, có một khoảng cách đáng kể về nguồn cung địa phương, do đó cần được lấp đầy bởi Trung Quốc, nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới.

Nguồn dữ liệu: Tổng c cục Hải quan, SMM

Nhìn vào tổng khối lượng và thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái đối với 10 điểm đến xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 10, Việt Nam vẫn dẫn đầu về tổng khối lượng, đứng đầu với 8,15 triệu tấn, tiếp theo là Hàn Quốc với 6,51 triệu tấn. Xuất khẩu sang Philippines cũng đáng kể, đạt 6,15 triệu tấn, xếp thứ ba. Rõ ràng thị trường tiêu thụ chính của thép Trung Quốc vẫn tập trung tại châu Á, chủ yếu ở Đông Nam Á, Đông Á và Tây Á.


Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM

Ø Theo sản phẩm: Tăng trưởng tích lũy năm của thép hình đặc biệt chuyển sang giảm; Tốc độ tăng phôi thép chậm lại

Theo dữ liệu do SMM tổng hợp từ Tổng cục Hải quan, Trung Quốc xuất khẩu 10.9565 triệu tấn sản phẩm thép vào tháng 10 năm 2025, bao gồm 1.1739 triệu tấn phôi thép. Mặc dù tăng trưưởng năm tiếp tục duy trì, tốc độ tăng trưởng tiếp tục chậm lại, chỉ còn 157%. Trong khi đó, tổng sản lượng hàng tháng đã giảm kể từ khi đạt đỉnh vào tháng 8, giảm 21.44% so với tháng 9. Ngoài ra, số lượng sản phẩm có mức giảm tích lũy năm tăng so với tháng 9. Cụ thể, sản lượng tích lũy của thép hình đặc biệt từ tháng 1 đến tháng 10 là 975,500 tấn, chuyển từ tăng sang giảm 2.38% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM

Cuối cùng, hãy xem xét phân bổ sản phẩm cho hai quốc gia đứng đầu trong xuất khẩu thép của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 10: Việt Nam và Hàn Quốc. Thép cuộn cán nóng (HRC) vẫn chiếm một nửa lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam, tiếp theo là thép mạ và thép cuộn cốt thép. Điều này là do nhu cầu đẩy mạnh xuất khẩu thép cuộn khổ rộng và duy trì nhu cầu xây dựng và sản xuất trong nước. Tuy nhiên, thời hạn chính sách chống lẩn tránh vào tháng 11 đang đến gần, và SMM tiếp tục theo dõi tình hình. Dựa trên khảo sát thị trường hiện tại, hầu hết các thương nhân vẫn kỳ vọng sự điều chỉnh giảm trong t tổng xuất khẩu HRC năm tới.

Nguồn dữ liệu: Tổng c cục Hải quan, SMM


Tuyên bố bản quyền và sở hữu trí tuệ:

Báo cáo này được tạo hoặc biên soạn độc lập bởi Công ty TNHH Công nghệ & Thông tin SMM (sau đây gọi là "SMM"), và SMM được hưởng hợp pháp bản quyền hoàn chỉnh và các quyền sở hữu trí tuệ liên quan.

Bản quyền, quyền nhãn hiệu, quyền tên miền, quyền sở hữu thông tin dữ liệu thương mại và các quyền sở hữu trí tuệ liên quan khác của tất cả nội dung chứa trong báo cáo này (bao gồm nhưng không giới hạn ở thông tin, bài viết, dữ liệu, biểu đồ, hình ảnh, âm thanh, video, logo, quảng cáo, nhãn hiệu, tên thương mại, tên miền, thiết kế bố cục, v.v.) thuộc sở hữu hoặc nắm giữ bởi SMM hoặc các chủ thể quyền liên quan.

Các quyền trên được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các luật và quy định có liên quan của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chẳng hạn như Luật Bản quyền, Luật Nhãn hiệu và Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh, cũng như các hiệp ước quốc tế áp dụng.

Nếu không có sự cho phép bằng văn bản trước từ SMM, không t tổ chức hoặc cá nhân nào được:

1. Sử dụng toàn bộ hoặc một phần báo cáo này dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm nhưng không giới hạn ở in lại, sửa đổi, bán, chuyển giao, trưng bày, dịch, biên soạn, phổ biến);

2. Tiết lộ nội dung báo cáo này cho bất kỳ bên thứ ba nào;

3. Cấp phép hoặc ủy quyền cho bất kỳ bên thứ ba nào sử dụng nội dung báo cáo này;

4. Đối với bất kỳ hành vi sử dụng trái phép nào, SMM sẽ theo đuổi trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm theo quy định pháp luật, yêu cầu họ gánh chịu các trách nhiệm pháp lý bao gồm nhưng không giới hạn ở trách nhiệm vi phạm hợp đồng, hoàn trả khoản lợi bất chính, và bồi thường các t tổn thất kinh tế trực tiếp và gián tiếp.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu:

(Ngoại trừ thông tin công khai, các dữ liệu khác trong báo cáo này được dẫn xuất từ thông tin công khai (bao gồm nhưng không giới hạn ở tin tức ngành, hội thảo, triển lãm, báo cáo tài chính doanh nghiệp, báo cáo môi giới, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia, dữ liệu xuất nhập khẩu hải quan, các dữ liệu khác nhau được công bố bởi các hiệp hội và t tổ chức lớn, v.v.), trao đổi thị trường, và các phân tích tổng hợp cùng suy luận hợp lý được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu dựa trên các mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Thông tin này chỉ nhằm mục đích tham khảo và không cấu thành lời khuyên quyết định.

SMM bảo lưu quyền giải thích cuối cùng đối với các điều khoản trong tuyên bố này và quyền điều chỉnh, sửa đổi nội dung tuyên bố theo tình hình thực tế.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
1 giờ trước
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Đọc thêm
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Nhà sản xuất than quốc doanh Indonesia PTBA đã tăng nhẹ mục tiêu sản lượng năm 2026 lên 49,55 triệu tấn từ mức 49,5 triệu tấn, đồng thời đặt mục tiêu tiêu thụ và vận chuyển cả năm lần lượt là 49,51 triệu tấn và 41 triệu tấn. Mục tiêu sản lượng chỉ tăng 50.000 tấn, tương đương khoảng 0,1%, khiến bản thân điều chỉnh này có ý nghĩa trực tiếp rất hạn chế đối với nguồn cung thị trường. Quan trọng hơn, sản lượng nửa đầu năm của PTBA giảm 10% so với cùng kỳ xuống 19,45 triệu tấn. Để đạt mục tiêu cả năm, công ty phải sản xuất khoảng 30,1 triệu tấn trong nửa cuối năm, cao hơn khoảng 54,8% so với sản lượng nửa đầu năm. Công ty cũng phải tiêu thụ khoảng 28,41 triệu tấn trong giai đoạn này, cao hơn khoảng 34,6% so với lượng tiêu thụ nửa đầu năm, đồng nghĩa với việc phục hồi sản xuất phải được hỗ trợ bởi năng lực vận chuyển và tiêu thụ đầy đủ. Sản lượng quý II của PTBA tăng 94% so với quý trước, trong khi lượng tiêu thụ tăng 8%, cho thấy hoạt động đã bắt đầu phục hồi. Giá bán bình quân nửa đầu năm tăng 14% so với quý trước và 10% so với cùng kỳ, giúp doanh thu tăng 8% lên 22,03 nghìn tỷ rupiah và lợi nhuận ròng thuộc về công ty mẹ tăng 218% lên 2,65 nghìn tỷ rupiah. Giá và lợi nhuận mạnh hơn đã làm tăng động lực nâng cao sản lượng và tiêu thụ của công ty. Tiêu thụ nội địa của PTBA giảm 9% so với cùng kỳ xuống 10,77 triệu tấn trong nửa đầu năm, trong khi xuất khẩu tăng 5% lên 10,33 triệu tấn. Công ty cũng có ý định đẩy mạnh tiêu thụ xuất khẩu.
1 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
1 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Đọc thêm
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Nam Phi: Sasol tăng đầu tư vào các mỏ than tự khai thác để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho Secunda Operations, đồng thời giảm mua than từ các nhà cung cấp bên thứ ba. Công ty đã sản xuất 28,4 triệu tấn than từ các mỏ của mình trong năm tài chính 2026 và dự kiến con số này sẽ tăng lên khoảng 30–32 triệu tấn trong năm tài chính 2027, trước khi tăng tiếp lên 34 triệu tấn vào năm 2028. Trong khi đó, Sasol kỳ vọng lượng than mua ngoài sẽ giảm từ 8,8 triệu tấn trong năm tài chính 2026 xuống còn 5–7 triệu tấn trong năm tài chính 2027, tương ứng mức giảm từ 1,8–3,8 triệu tấn, tức khoảng 20,5–43,2%. Sự thay đổi này chủ yếu phản ánh việc Sasol thay thế than mua ngoài bằng than từ các mỏ tự khai thác và không đồng nghĩa với việc tổng nhu cầu than của công ty giảm tương đương. Công ty cho biết việc tăng tỷ trọng than tự khai thác sẽ giúp duy trì chất lượng than ổn định, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và cải thiện khả năng cạnh tranh về chi phí. Sasol đã đầu tư 1 tỷ rand để chuyển đổi nhà máy rửa than xuất khẩu Twistdraai thành cơ sở loại bỏ đá. Cơ sở này hiện đang cung cấp than đã qua chế biến với tỷ trọng chìm dưới 12%. Chất lượng than được cải thiện, hệ số khả dụng của thiết bị khí hóa cao hơn và việc không phải dừng bảo dưỡng trong năm tài chính 2026 đã góp phần đưa sản lượng hàng năm tại Secunda Operations lên mức cao nhất trong 5 năm là 7,2 triệu tấn. Với kế hoạch dừng bảo dưỡng định kỳ trong năm tài chính 2027, công ty dự kiến cơ sở này sẽ sản xuất từ 7,2–7,4 triệu tấn trong năm. Chi phí vốn cho hoạt động khai thác mỏ đã tăng từ 2,9 tỷ rand trong năm tài chính 2024 lên 4,1 tỷ rand trong năm tài chính 2026 và dự kiến sẽ tăng thêm 1–1,5 tỷ rand trong năm tài chính 2027, bao gồm khoản đầu tư cho dự án thay thế giếng mỏ. Ngoài ra, Sasol đang đánh giá việc sản xuất khí giàu methane từ than như một nguồn cung cầu nối cho các khách hàng công nghiệp có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung khí từ năm 2028 trở đi. Tuy nhiên, dự án vẫn cần sự chắc chắn hơn về giá dài hạn và đánh giá pháp lý sâu hơn, và công ty vẫn chưa đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng.
1 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
1 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Đọc thêm
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Công ty dịch vụ kỹ thuật và hậu cần tích hợp Ấn Độ Sical Logistics đã trúng thầu hợp đồng khai thác mỏ kéo dài 5 năm trị giá khoảng 5,3473 tỷ rupee từ Central Coalfields Limited cho hoạt động khai thác và vận chuyển đất đá hạng nặng tại mỏ SDOC ở huyện Bokaro, bang Jharkhand. Hợp đồng bao gồm việc bốc xúc lại khoảng 20,14 triệu mét khối đất phủ, loại bỏ khoảng 33,65 triệu mét khối đất phủ cứng và khai thác khoảng 9,104 triệu tấn than từ khu vực khai thác rộng 143 ha. Giá trị hợp đồng đã bao gồm 18% thuế hàng hóa và dịch vụ, trong khi thời gian thực hiện là 1.825 ngày. Tính trung bình đơn giản trong 5 năm, sản lượng than theo hợp đồng đạt khoảng 1,82 triệu tấn mỗi năm.
1 giờ trước