[Phân tích SMM] Tổng quan Thị trường Thép Toàn cầu Tuần 8

Đã xuất bản: Nov 25, 2025 15:02
Nguồn: SMM
Tuần trước, giá hợp đồng tương lai thép Trung Quốc biến động mạnh nhưng nhìn chung có xu hướng tăng. Tuần này giá tiếp tục tăng, đồng thời giá chào xuất khẩu cũng được nâng lên. Hiện giá chào xuất khẩu thép cuộn cán nóng (HRC) Trung Quốc ở mức 465–468 USD/tấn, mức có thể giao dịch khoảng 450–455 USD/tấn; giá chào xuất khẩu phôi thép ở mức 436–446 USD/tấn. Về giao dịch, lượng h hỏi mua trong hai tuần qua ở mức vừa phải, tuy nhiên các thỏa thuận ký kết vẫn nghiêng về giá thấp. Theo sản phẩm, giá xuất khẩu phôi thép Trung Quốc hiện đang thấp hơn so với các thị trường nước ngoài như Indonesia và Philippines, khiến việc bán hàng của thương nhân gặp khó khăn và thanh khoản ở mức trung bình. Đối với HRC, tháng 11 nằm trong thời gian áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với thép cuộn cán rộng của Việt Nam, nên kể từ đầu tháng, hiện tượng đẩy mạnh xuất khẩu đã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, do t tồn kho của các thương nhân lớn tại Việt Nam đã tăng lên, nên gần đây ý muốn mua hàng đã giảm xuống. Hiện tại biên lợi nhuận của thép cán nguội hấp dẫn hơn so với HRC, nhưng dù đơn giá cao hơn, khối lượng đặt hàng vẫn thấp hơn so với thép cán nóng.

[Phân tích SMM] Nhận định Tuần về Thị trường Thép Toàn cầu Số 8

Tuần trước, hợp đồng tương lai thép Trung Quốc biến động mạnh nhưng nhìn chung có xu hướng tăng. Giá tiếp tục tăng trong tuần này, và chào hàng xuất khẩu cũng tăng theo. Hiện chào bán thép cuộn cán nóng (HRC) xuất khẩu của Trung Quốc ở mức 465-468 USD/tấn, với mức có thể giao dịch quanh 450-455 USD/tấn; chào bán phôi thép xuất khẩu ở mức 436-446 USD/tấn. Về giao dịch, lượng h hỏi hàng trong hai tuần qua ở mức vừa phải, tuy nhiên các thỏa thuận ký kết vẫn nghiêng về mức giá thấp hơn. Theo sản phẩm, giá phôi thép xuất khẩu Trung Quốc hiện đang chiết khấu so với các thị trường nước ngoài như Indonesia và Philippines, khiến việc bán hàng của thương nhân gặp khó khăn và khiến doanh số ở mức trung bình. Đối với HRC, tháng 11 nằm trong thời gian áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với thép cuộn rộng của Việt Nam, vì vậy kể từ đầu tháng, việc đẩy mạnh xuất khẩu là phổ biến. Tuy nhiên, do t tồn kho của các thương nhân lớn tại Việt Nam đã tăng lên, nên gần đây ý muốn mua hàng đã giảm xuống. Biên lợi nhuận của thép cán nguội hiện tại hấp dẫn hơn so với HRC, nhưng mặc dù đơn giá cao hơn, khối lượng đặt hàng vẫn thấp hơn so với thép cán nóng.

Thị trường nước ngoài: Trung Đông – Sau cuộc bầu cử quốc hội ở Iraq vào đầu tuần trước, hoạt động kinh doanh đang dần phục hồi. Nhu cầu đối với một số sản phẩm thép dài như thép thanh vằn và thép thanh biến dạng khá ổn định, với giá ổn định kể từ đầu tháng 11. Giá xuất khẩu tấm và tấm của UAE và Ả Rập Xê-út điều chỉnh giảm so với tháng trước, trong khi tâm lý giao dịch đối với một số sản phẩm cán nguội như thép cán nguội và mạ kẽm yếu. Nhìn chung, Trung Đông vẫn chìm trong nhu cầu yếu; sự chú ý sẽ tiếp tục dồn vào các chào hàng sắp tới từ các nhà xuất khẩu châu Á then chốt, đặc biệt là Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Quốc.

Đông Nam Á – Giá giao dịch gần đây chủ yếu điều chỉnh giảm. Thời tiết khắc nghiệt ở một số khu vực làm chậm hoạt động thu mua. Đối với Malaysia, thị trường xuất khẩu chính là Singapore; lấy thép thanh vằn làm ví dụ, mức chấp nhận giá thấp ở Singapore cộng với chi phí vận chuyển đường bộ từ Malaysia khiến nó không có lợi thế về giá.

Thị trường Ấn Độ: Giá thị trường nội địa vẫn yếu và ổn định do nhu cầu trì trệ. Trong khi đó, các yếu tố như vấn đề thanh khoản, dư cung và mức tồn kho cao đang khiến người mua thận trọng hơn trong việc thu mua. Tuy nhiên, trên thị trường nước ngoài, cuộc cạnh tranh khốc liệt cho các nguồn hàng giá rẻ đã đẩy giá xuống. Hiện tại, giá CFR HRC Ấn Độ đến Việt Nam vào khoảng 485-487 USD/tấn.


Tuyên bố về bản quyền và sở hữu trí tuệ:

Báo cáo này được lập hoặc biên soạn độc lập bởi Công ty TNHH Công nghệ & Thông tin SMM (sau đây gọi tắt là "SMM"), và SMM được hưưởng hợp pháp toàn bộ bản quyền và các quyền sở hữu trí tuệ liên quan.

Bản quyền, quyền nhãn hiệu, quyền tên miền, quyền sở hữu thông tin dữ liệu thương mại và các quyền sở hữu trí tuệ liên quan khác đối với mọi nội dung chứa trong báo cáo này (bao gồm nhưng không giới hạn ở thông tin, bài viết, dữ liệu, biểu đồ, hình ảnh, âm thanh, video, logo, quảng cáo, nhãn hiệu, tên thương mại, tên miền, thiết kế bố cục, v.v.) đều thuộc sở hữu hoặc nắm giữ bởi SMM hoặc các chủ thể có quyền liên quan của SMM.

Các quyền trên được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các luật và quy định có liên quan của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chẳng hạn như Luật Bản quyền, Luật Nhãn hiệu và Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như các hiệp ước quốc tế áp dụng.

Nếu không có sự ủy quyền bằng văn bản trước từ SMM, không tổ chức hoặc cá nhân nào được:

1. Sử dụng toàn bộ hoặc một phần báo cáo này dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm nhưng không giới hạn ở tái bản, sửa đổi, bán, chuyển nhượng, trưng bày, dịch thuật, biên soạn, phổ biến);

2. Tiết lộ nội dung của báo cáo này cho bất kỳ bên thứ ba nào;

3. Cấp phép hoặc ủy quyền cho bất kỳ bên thứ ba nào sử dụng nội dung của báo cáo này;

4. Đối với bất kỳ hành vi sử dụng trái phép nào, SMM sẽ theo đuổi trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm theo quy định của pháp luật, yêu cầu họ chịu các trách nhiệm pháp lý bao gồm nhưng không giới hạn ở trách nhiệm vi phạm hợp đồng, hoàn trả lợi nhuận bất chính và bồi thường các t tổn thất kinh tế trực tiếp và gián tiếp.

Tuyên bố về nguồn dữ liệu:

(Ngoại trừ thông tin công khai, các dữ liệu khác trong báo cáo này có nguồn gốc từ thông tin công khai (bao gồm nhưng không giới hạn ở tin tức ngành, hội thảo, triển lãm, báo cáo tài chính doanh nghiệp, báo cáo môi giới, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia, dữ liệu xuất nhập khẩu hải quan, các dữ liệu khác nhau được công bố bởi các hiệp hội và t tổ chức lớn, v.v.), trao đổi thị trường, và phân tích t tổng hợp cùng suy luận hợp lý được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu dựa trên các mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Thông tin này chỉ nhằm mục đích tham khảo và không cấu thành lời khuyên ra quyết định.

SMM bảo lưu quyền giải thích cuối cùng đối với các điều khoản trong tuyên bố này và quyền điều chỉnh, sửa đổi nội dung tuyên bố theo tình hình thực tế.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
2 giờ trước
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Đọc thêm
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Nhà sản xuất than quốc doanh Indonesia PTBA đã tăng nhẹ mục tiêu sản lượng năm 2026 lên 49,55 triệu tấn từ mức 49,5 triệu tấn, đồng thời đặt mục tiêu tiêu thụ và vận chuyển cả năm lần lượt là 49,51 triệu tấn và 41 triệu tấn. Mục tiêu sản lượng chỉ tăng 50.000 tấn, tương đương khoảng 0,1%, khiến bản thân điều chỉnh này có ý nghĩa trực tiếp rất hạn chế đối với nguồn cung thị trường. Quan trọng hơn, sản lượng nửa đầu năm của PTBA giảm 10% so với cùng kỳ xuống 19,45 triệu tấn. Để đạt mục tiêu cả năm, công ty phải sản xuất khoảng 30,1 triệu tấn trong nửa cuối năm, cao hơn khoảng 54,8% so với sản lượng nửa đầu năm. Công ty cũng phải tiêu thụ khoảng 28,41 triệu tấn trong giai đoạn này, cao hơn khoảng 34,6% so với lượng tiêu thụ nửa đầu năm, đồng nghĩa với việc phục hồi sản xuất phải được hỗ trợ bởi năng lực vận chuyển và tiêu thụ đầy đủ. Sản lượng quý II của PTBA tăng 94% so với quý trước, trong khi lượng tiêu thụ tăng 8%, cho thấy hoạt động đã bắt đầu phục hồi. Giá bán bình quân nửa đầu năm tăng 14% so với quý trước và 10% so với cùng kỳ, giúp doanh thu tăng 8% lên 22,03 nghìn tỷ rupiah và lợi nhuận ròng thuộc về công ty mẹ tăng 218% lên 2,65 nghìn tỷ rupiah. Giá và lợi nhuận mạnh hơn đã làm tăng động lực nâng cao sản lượng và tiêu thụ của công ty. Tiêu thụ nội địa của PTBA giảm 9% so với cùng kỳ xuống 10,77 triệu tấn trong nửa đầu năm, trong khi xuất khẩu tăng 5% lên 10,33 triệu tấn. Công ty cũng có ý định đẩy mạnh tiêu thụ xuất khẩu.
2 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
2 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Đọc thêm
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Nam Phi: Sasol tăng đầu tư vào các mỏ than tự khai thác để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho Secunda Operations, đồng thời giảm mua than từ các nhà cung cấp bên thứ ba. Công ty đã sản xuất 28,4 triệu tấn than từ các mỏ của mình trong năm tài chính 2026 và dự kiến con số này sẽ tăng lên khoảng 30–32 triệu tấn trong năm tài chính 2027, trước khi tăng tiếp lên 34 triệu tấn vào năm 2028. Trong khi đó, Sasol kỳ vọng lượng than mua ngoài sẽ giảm từ 8,8 triệu tấn trong năm tài chính 2026 xuống còn 5–7 triệu tấn trong năm tài chính 2027, tương ứng mức giảm từ 1,8–3,8 triệu tấn, tức khoảng 20,5–43,2%. Sự thay đổi này chủ yếu phản ánh việc Sasol thay thế than mua ngoài bằng than từ các mỏ tự khai thác và không đồng nghĩa với việc tổng nhu cầu than của công ty giảm tương đương. Công ty cho biết việc tăng tỷ trọng than tự khai thác sẽ giúp duy trì chất lượng than ổn định, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và cải thiện khả năng cạnh tranh về chi phí. Sasol đã đầu tư 1 tỷ rand để chuyển đổi nhà máy rửa than xuất khẩu Twistdraai thành cơ sở loại bỏ đá. Cơ sở này hiện đang cung cấp than đã qua chế biến với tỷ trọng chìm dưới 12%. Chất lượng than được cải thiện, hệ số khả dụng của thiết bị khí hóa cao hơn và việc không phải dừng bảo dưỡng trong năm tài chính 2026 đã góp phần đưa sản lượng hàng năm tại Secunda Operations lên mức cao nhất trong 5 năm là 7,2 triệu tấn. Với kế hoạch dừng bảo dưỡng định kỳ trong năm tài chính 2027, công ty dự kiến cơ sở này sẽ sản xuất từ 7,2–7,4 triệu tấn trong năm. Chi phí vốn cho hoạt động khai thác mỏ đã tăng từ 2,9 tỷ rand trong năm tài chính 2024 lên 4,1 tỷ rand trong năm tài chính 2026 và dự kiến sẽ tăng thêm 1–1,5 tỷ rand trong năm tài chính 2027, bao gồm khoản đầu tư cho dự án thay thế giếng mỏ. Ngoài ra, Sasol đang đánh giá việc sản xuất khí giàu methane từ than như một nguồn cung cầu nối cho các khách hàng công nghiệp có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung khí từ năm 2028 trở đi. Tuy nhiên, dự án vẫn cần sự chắc chắn hơn về giá dài hạn và đánh giá pháp lý sâu hơn, và công ty vẫn chưa đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng.
2 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
2 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Đọc thêm
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Công ty dịch vụ kỹ thuật và hậu cần tích hợp Ấn Độ Sical Logistics đã trúng thầu hợp đồng khai thác mỏ kéo dài 5 năm trị giá khoảng 5,3473 tỷ rupee từ Central Coalfields Limited cho hoạt động khai thác và vận chuyển đất đá hạng nặng tại mỏ SDOC ở huyện Bokaro, bang Jharkhand. Hợp đồng bao gồm việc bốc xúc lại khoảng 20,14 triệu mét khối đất phủ, loại bỏ khoảng 33,65 triệu mét khối đất phủ cứng và khai thác khoảng 9,104 triệu tấn than từ khu vực khai thác rộng 143 ha. Giá trị hợp đồng đã bao gồm 18% thuế hàng hóa và dịch vụ, trong khi thời gian thực hiện là 1.825 ngày. Tính trung bình đơn giản trong 5 năm, sản lượng than theo hợp đồng đạt khoảng 1,82 triệu tấn mỗi năm.
2 giờ trước
[Phân tích SMM] Tổng quan Thị trường Thép Toàn cầu Tuần 8 - Shanghai Metals Market (SMM)