Giá quặng niken Philippines CIF Trung Quốc ổn định so với tuần trước; Giá quặng niken Philippines CIF Indonesia giảm so với tuần trước
Giá quặng niken Philippines CIF Trung Quốc ổn định so với tuần trước. Giá quặng niken laterit Philippines hàm lượng 1.3% Ni CIF Trung Quốc ở mức 41-43 USD/wmt, hàm lượng 1.4% Ni là 49-51 USD/wmt, và hàm lượng 1.5% Ni là 56-58 USD/wmt. Giá quặng niken laterit Philippines xuất sang Indonesia gần đây suy yếu. Giá giao dịch trung bình cho quặng 1.3% là 43 USD/wmt, và quặng 1.4% là 50 USD/wmt.
Về phía cung cầu, lượng mưa trên khắp Philippines tăng mạnh so với tuần trước. Tawi và Nam Surigao ghi nhận lượng mưa tích lũy vượt quá 50mm, trong khi tất cả các điểm xếp hàng khác có lượng mưa tích lũy hàng tuần là 80mm. Các khu vực sản xuất chính dự kiến bước vào mùa mưa, điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động khai thác và vận chuyển. Xuất khẩu của Philippines trong tháng 9 giảm 12.34% so với tháng trước nhưng tăng 5.95% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong tháng 10. Về phía t tồn kho cảng, tính đến thứ Sáu ngày 31 tháng 10, t tồn kho quặng niken tại các cảng trên toàn quốc đạt 10.06 triệu tấn, giảm 180,000 tấn so với tuần trước. Tương đương với hàm lượng kim loại khoảng 79,000 tấn Ni. Về phía nhu cầu, giá NPI tiếp tục xu hướng giảm trong tuần này, và t tổn thất tại các nhà máy luyện NPI lại tăng mạnh. Việc chấp nhận quặng niken giá cao vẫn còn hạn chế. Về phía cước vận tải biển, giá cước vận tải biển ổn định so với tuần trước, với mức cước trung bình từ Philippines đến Liên Vân Cảng là 11.5 USD/tấn. Nhìn về phía trước, khi tiến vào giữa và cuối tháng 10, thời kỳ mua sắm cao điểm của các nhà máy luyện kim trong nước đã qua, và khối lượng giao dịch dự kiến sẽ duy trì ở mức thấp trong nửa cuối quý 4. Giá cả dự kiến sẽ ổn định về tổng thể.
Giá quặng niken Indonesia ổn định gần đây; Khối lượng mua sắm của nhà máy luyện kim tăng lên
Giá quặng niken Indonesia ổn định so với tuần trước. Đối với giá chuẩn, giá chuẩn quặng niken địa phương Indonesia cho nửa cuối tháng 10 là 15,142 USD/dmt, tăng 0.27% so với kỳ trước. Về phí bảo hiểm, theo dữ liệu phí bảo hiểm quặng niken laterit địa phương Indonesia của SMM, phí bảo hiểm trung bình cho cấp 1.4% là 22 USD, cho cấp 1.5% là 25.5 USD, và cho cấp 1.6% là 26 USD, ổn định so với tuần trước. Giá giao đến nhà máy quặng niken laterit địa phương Indonesia hàm lượng 1.6% Ni của SMM là 51.8-53.8 USD/wmt, ổn định so với tuần trước. Giá quặng limonit, giá quặng niken laterit Indonesia tại chỗ giao đến nhà máy hàm lượng Ni 1.3% do SMM công bố duy trì ổn định ở mức 24-26 USD/wmt, giữ nguyên theo tuần.
Về phía cung ứng quặng saprolit, mùa mưa tại các đảo Sulawesi và Halmahera, Indonesia về cơ bản đã kết thúc, thi thoảng có mưa nhỏ nhưng không cản trở hoạt động khai thác tổng thể. Hầu hết các mỏ đang lên kế hoạch tăng sản lượng bán ra để tận dụng tối đa hạn ngạch đã được phê duyệt, dẫn đến sản lượng quặng niken tăng tương đối. Tuy nhiên, thách thức vận chuyển vẫn tồn tại. Do hoạt động vận tải đường bộ gia tăng mạnh, các mỏ đối mặt với tắc nghẽn hậu cần; trong khi đó, quá trình rà soát đang diễn ra của một số nhóm công tác lâm nghiệp tiếp tục cản trở hiệu suất vận chuyển tổng thể và gây chậm trễ. Về phía nhu cầu, một số nhà máy luyện kim Indonesia đang duy trì khối lượng thu mua quặng lớn để chuẩn bị cho tình trạng thiếu nguyên liệu tiềm ẩn trong chu kỳ RKAB tiếp theo. Tuy nhiên, khi giá NPI có xu hướng giảm, khả năng chấp nhận giá quặng cao của các nhà máy luyện kim đang tiến gần đến giới hạn. Ngoài ra, quy định mới rút ngắn chu kỳ phê duyệt RKAB từ ba năm xuống một năm đã làm gia tăng kỳ vọng thị trường về tình trạng "nguồn cung quặng thắt chặt" trong tương lai. Nhìn về tháng tới, phí bảo hiểm cho quặng saprolit dự kiến sẽ biến động ở mức cao.
Đối với quặng limonit, giao dịch thị trường t tổng thể không cho thấy sự tăng trưưởng đáng kể. Nguồn cung tương đối dồi dào. Về phía nhu cầu, một số nhà máy luyện kim HPAL đã tăng nhẹ việc thu mua nguyên liệu để dự phòng cho chính sách RKAB mới vào năm sau, nhưng điều này không vượt quá nguồn cung thị trường. Nhìn chung, với nhu cầu thấp hơn nguồn cung, giá quặng limonit chịu áp lực giảm; tuy nhiên, những gián đoạn tiềm ẩn trong chuỗi cung ứng từ chính sách RKAB, cùng với tâm lý không muốn bán ở mức giá thấp mạnh mẽ giữa các mỏ, đang cùng nhau tạo ra sự hỗ trợ theo giai đoạn cho giá cả. Trong ngắn hạn, giá dự kiến sẽ tiếp tục trì trệ, với không gian giảm hạn chế.



