Theo số liệu từ Tổng c cục Thống kê (NBS), tháng 9 năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp toàn quốc giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước và giữ nguyên so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng 0,1% so với tháng trước. Tính trung bình từ tháng 1 đến tháng 9, giá xuất xưưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá mua vào giảm 3,2%.
Mức giảm theo năm của giá xuất xưởng nhà sản xuất công nghiệp tiếp tục thu hẹp vào tháng 9 năm 2025
Vào tháng 9 năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp trên toàn quốc giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước và giữ nguyên so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng 0,1% so với tháng trước. Tính trung bình từ tháng 1 đến tháng 9, giá xuất xưưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá mua vào giảm 3,2%.


I. Biến động theo năm của giá nhà sản xuất công nghiệp
Trong tháng 9, trong giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giảm 2,4%, kéo mức giá xuất xưởng t tổng thể giảm khoảng 1,81 điểm phần trăm. Trong đó, giá ngành khai khoáng giảm 9,0%, giá ngành nguyên liệu thô giảm 2,9%, và giá ngành chế biến giảm 1,7%. Giá tư liệu sinh hoạt giảm 1,7%, kéo mức giá xuất xưởng t tổng thể giảm khoảng 0,45 điểm phần trăm. Trong đó, giá thực phẩm giảm 1,7%, giá quần áo giảm 0,3%, giá hàng tiêu dùng thông thường tăng 0,7%, và giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 3,9%.


Trong giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp, giá nhiên liệu và năng lượng giảm 8,1%, giá nguyên liệu hóa chất giảm 5,5%, giá sản phẩm nông nghiệp và phụ giảm 5,4%, giá vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 4,5%, giá kim loại đen giảm 2,9%, và giá nguyên liệu dệt may giảm 1,7%; giá kim loại màu và dây điện tăng 6,6%.
II. Biến dộng tháng của giá sản xuất công nghiệp
Trong tháng 9, trong giá xuất xưưởng của các nhà sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giữ nguyên. Trong dó, giá ngành khai thác tăng 1,2%, giá ngành nguyên vật liệu giữ nguyên, giá ngành chế biến giảm 0,1%. Giá tư liệu sinh hoạt giảm 0,2%, kéo mức giá xuất xưưởng chung giảm khoảng 0,04 phần trăm. Trong dó, giá thực phẩm giảm 0,1%, giá mặc giữ nguyên, giá hàng tiêu dùng thông thường tăng 0,2%, giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 0,4%.
Trong giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp, nhóm vật liệu kim loại màu và dây dẫn tăng 1,2%, nhóm nhiên liệu, năng lượng tăng 0,5%, nhóm vật liệu kim loại den tăng 0,4%; nhóm vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 0,6%, nhóm nguyên liệu hóa chất giảm 0,4%, nhóm sản phẩm nông, lâm sản giảm 0,2%, nhóm nguyên liệu dệt may giảm 0,1%.

Chỉ số giá tiêu dùng lõi tháng 9 năm 2025 tiếp tục tăng theo nguyên nhân
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng 9 tiếp tục thu hẹp theo nguyên nhân
— Ông Dong Lijuan, tổng thống kê viên của cục Thành thị thuộc Tổng cục Thống kê Nhà nghiên cứu, giải thích số liệu CPI và PPI tháng 9 năm 2025
Trong tháng 9, thị trường tiêu dùng vận hành ổn định nói chung, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,1% theo tháng và giảm 0,3% theo nguyên nhân. CPI lõi, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,0% theo nguyên nhân, là tháng thứ năm liên tiếp tăng trưưởng. Với việc thúc đẩy sâu rộng việc xây dựng một thị trường quốc gia thống nhất và tiếp tục tối ưu hóa thứ tự cạnh tranh trên thị trường, chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) giữ nguyên theo tháng; giảm 2,3% theo nguyên nhân, với mức giảm thu hẹp 0,6 phần trăm so với tháng truớc.
I. CPI chuyển từ ổn định sang tăng theo tháng, CPI lõi tăng theo nguyên nhân phục hồi lên 1%
CPI phục hồi theo tháng, chuyển từ ổn định trong tháng truớc sang tăng 0,1%. Trong dó, giá thực phẩm tăng 0,7% theo tháng, với mức tăng mở rộng 0,2 phần trăm so với tháng truớc, góp phần khoảng 0,13 phần trăm vào mức tăng CPI theo tháng.Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi, trứng, trái cây tươi, thịt cừu và thịt bò đều tăng theo mùa, dao động từ 0,9% đến 6,1%; nguồn cung thịt lợn và thủy sản dồi dào, giá lần lượt giảm 0,7% và 1,8%. Hàng tiêu dùng công nghiệp (trừ năng lượng) tăng 0,5%, đóng góp khoảng 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng CPI tháng. Trong đó, giá trang sức vàng trong nước tăng 6,5% do ảnh hưưởng từ giá vàng thế giới; cùng với mùa thu và hàng mới về, giá quần áo tăng 0,8%; giá hàng tiêu dùng lâu bền giải trí, đồ gia dụng và vật dụng gia đình hàng ngày lần lượt tăng 0,9%, 0,6% và 0,6%. Do ảnh hưưởng của việc giảm giá dịch vụ và năng lượng, mức tăng CPI tháng thấp hơn một chút so với trung bình mùa. Giá dịch vụ giảm 0,3%, đóng góp khoảng 0,12 điểm phần trăm vào mức giảm CPI tháng. Trong đó, do kết thúc kỳ nghỉ hè và Tết Trung thu rơi vào tháng khác so với các năm trước, giá vé máy bay, lưu trú khách sạn và du lịch giảm lần lượt 13,8%, 7,4% và 6,1%, cùng đóng góp khoảng 0,17 điểm phần trăm vào mức giảm CPI tháng. Giá năng lượng giảm 0,8%, trong đó giá xăng trong nước giảm 1,7% do ảnh hưởng từ biến động giá dầu thế giới.
CPI giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Nguyên nhân chính khiến CPI giảm là do hiệu ứng kỳ đầu. Trong mức thay đổi 0,3% của CPI tháng này, hiệu ứng kỳ đầu đóng góp khoảng -0,8 điểm phần trăm, trong khi biến động giá mới năm nay đóng góp khoảng 0,5 điểm phần trăm. Theo nhóm hàng, giá thực phẩm và năng lượng giảm. Giá thực phẩm giảm 4,4%, mức giảm mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI giảm khoảng 0,83 điểm phần trăm so với cùng kỳ, trở thành nhân tố chính khiến CPI giảm. Trong nhóm thực phẩm, giá thịt lợn, rau tươi, trứng và trái cây tươi giảm lần lượt 17,0%, 13,7%, 13,5% và 4,2%, cùng kéo CPI giảm khoảng 0,78 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Giá thịt bò và thịt cừu tăng lần lượt 4,6% và 0,8%, trong đó giá thịt cừu tăng trở lại sau 44 tháng liên tiếp giảm. Giá năng lượng giảm 2.7%, kéo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm khoảng 0.2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái.CPI lõi, loại trừ lương thực và năng lượng, tăng 1.0% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng thứ năm liên tiếp tăng trưưởng mở rộng và lần đầu tiên sau gần 19 tháng tốc độ tăng trưởng trở lại mức 1%.Trong đó, giá hàng tiêu dùng công nghiệp không bao gồm năng lượng tăng 1.8%, với tốc độ tăng trưưởng mở rộng tháng thứ năm liên tiếp.Trong hàng tiêu dùng công nghiệp, giá trang sức vàng và bạch kim lần lượt tăng 42.1% và 33.6%, trong khi giá đồ gia dụng, hàng gia dụng hàng ngày và công c cụ viễn thông tăng lần lượt 5.5%, 3.2% và 1.5%, tất cả đều có tốc độ tăng trưởng mở rộng.Giá dịch vụ tăng 0.6%, duy trì tương đối ổn định, với giá dịch vụ y tế và dịch vụ gia đình tăng lần lượt 1.9% và 1.6%, trong khi giá lưu trú khách sạn và vé máy bay giảm lần lượt 1.5% và 1.7%.
II.Chỉ số giá sản xuất (PPI) ổn định tháng truớc, tuyệt đối giảm thu hẹp thêm
PPI duy trì ổn định so với tháng trước trong tháng thứ hai liên tiếp.Đặc điểm chính của xu hướng PPI tháng này: Thứ nhất, cấu trúc cung-cầu được cải thiện thúc đẩy ổn định giá rõ rệt trong một số ngành.Giá chế biến than tăng 3.8% so với tháng trước, giá khai thác và rửa than tăng 2.5%, và giá luyện kim và ép kim loại màu tăng 0.2%, tất cả đều tăng trong hai tháng liên tiếp.Giá sản xuất thiết bị và linh kiện năng lượng mặt trời chuyển từ mức giảm 0.2% tháng trước sang tăng 0.8%.Giá sản phẩm khoáng sản phi kim loại và sản xuất pin lithium-ion giảm lần lượt 0.4% và 0.2%, với mức giảm thu hẹp 0.6 và 0.3 điểm phần trăm so với tháng trước.Thứ hai, yếu tố nhập khẩu dẫn đến giảm giá các ngành liên quan đến dầu mỏ trong nước so với tháng trước.Giá dầu quốc tế thấp hơn kéo giảm giá các ngành liên quan đến dầu mỏ trong nước so với tháng trước.Trong đó, giá khai thác dầu giảm 2.7%, giá sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 1.5%, giá sản xuất nguyên liệu hóa chất thô hữu cơ giảm 0.6%, và giá sản xuất sợi hóa học giảm 0.2%.
PPI giảm 2.3% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức giảm thu hẹp 0.6 điểm phần trăm so với tháng trước.Ngoài tác động từ cơ sở so sánh thấp hơn cùng kỳ năm trước, hiệu quả của các chính sách vĩ mô Trung Quốc tiếp tục thể hiện, với giá cả một số ngành công nghiệp có biến động tích c cực. Thứ nhất, việc thúc đẩy sâu rộng thị trường thống nhất toàn quốc góp phần thu hẹp mức giảm giá theo năm của các ngành liên quan. Quản lý năng lực sản xuất trong một số ngành cho thấy kết quả, trật tự cạnh tranh thị trường tiếp tục cải thiện, và mức giảm giá theo năm thu hẹp. Mức giảm giá cho chế biến than, luyện kim đen, khai thác và rửa than, sản xuất thiết bị và linh kiện điện mặt trời, sản xuất pin, và sản phẩm khoáng sản phi kim loại thu hẹp lần lượt 8,3; 3,4; 3,0; 2,4; 0,5; và 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Sáu ngành này giảm lực kéo xuống đối với chỉ số giá sản xuất theo năm khoảng 0,34 điểm phần trăm so với tháng trước. Thứ hai, nâng cấp cơ cấu công nghiệp và giải phóng tiềm năng tiêu dùng thúc đẩy tăng giá theo năm trong các ngành liên quan. Việc xây dựng hệ thống công nghiệp hiện đại được tăng tốc, cùng với xu hướng tích c cực trong phát triển cao cấp, thông minh và xanh của sản xuất, mở rộng ổn định nhu cầu thị trường. Giá sản xuất máy bay tăng 1,4% theo năm, giá sản xuất vật liệu chuyên dụng điện tử tăng 1,2%, giá ngành công nghiệp tái chế tài nguyên chất thải tăng 0,9%, và giá sản xuất thiết bị thông minh đeo được tăng nhẹ 0,1%. Hiệu quả của các chính sách thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục xuất hiện, với việc giải phóng nhu cầu tiêu dùng chất lượng và nâng cấp. Giá sản xuất sản phẩm nghệ thuật, thủ công và nghi lễ tăng 14,7% theo năm, giá sản xuất bóng thể thao tăng 4,0%, và giá sản xuất thực phẩm dinh dưỡng tăng 1,8%.