Theo số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS), vào tháng 9 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá cả tại các khu vực thành thị giảm 0,2%, trong khi tại khu vực nông thôn giảm 0,5%; giá thực phẩm giảm 4,4%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,7%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,8%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,6%. Trung bình từ tháng 1 đến tháng 9, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc giảm 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Vào tháng 9, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc tăng 0,1% so với tháng trước. Cụ thể, giá cả tại khu vực thành thị giữ nguyên, trong khi tại khu vực nông thôn tăng 0,2%; giá thực phẩm tăng 0,7%, trong khi giá phi thực phẩm giảm 0,1%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,3%, trong khi giá dịch vụ giảm 0,3%.
Giá tiêu dùng tháng 9 năm 2025: Giảm 0,3% so với cùng kỳ, tăng 0,1% so với tháng trước
Vào tháng 9 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá cả tại các khu vực thành thị giảm 0,2%, trong khi tại khu vực nông thôn giảm 0,5%; giá thực phẩm giảm 4,4%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,7%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,8%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,6%. Trung bình từ tháng 1 đến tháng 9, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc giảm 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Vào tháng 9, chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc tăng 0,1% so với tháng trước. Cụ thể, giá cả tại khu vực thành thị giữ nguyên, trong khi tại khu vực nông thôn tăng 0,2%; giá thực phẩm tăng 0,7%, trong khi giá phi thực phẩm giảm 0,1%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,3%, trong khi giá dịch vụ giảm 0,3%.

I. Biến động giá cả so với cùng kỳ năm trước của các loại hàng hóa và dịch vụ
Vào tháng 9, giá thực phẩm, thuốc lá và rượu bia giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước, kéo chỉ số CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) giảm khoảng 0,74 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi giảm 13,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,35 điểm phần trăm; giá trứng giảm 11,9%, kéo CPI giảm khoảng 0,08 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 8,4%, kéo CPI giảm khoảng 0,27 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 17,0%, kéo CPI giảm khoảng 0,26 điểm phần trăm; giá trái cây tươi giảm 4,2%, kéo CPI giảm khoảng 0,09 điểm phần trăm; giá ngũ cốc giảm 0,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm; giá thủy sản tăng 0,9%, đẩy CPI tăng khoảng 0,02 điểm phần trăm.
Trong số bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ chính còn lại, sáu nhóm ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước, trong khi một nhóm giảm. Cụ thể, giá các mặt hàng đồ dùng và dịch vụ khác, hàng hóa và dịch vụ gia đình, và quần áo lần lượt tăng 9,9%, 2,2% và 1,7%; giá chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa và giải trí, và nhà ở tăng lần lượt 1,1%, 0,8% và 0,1%; trong khi giá giao thông và liên lạc giảm 2,0%.

II. Biến động giá hàng tháng của các hàng hóa và dịch vụ khác nhau
Vào tháng 9, giá thực phẩm, thuốc lá và rượu bia tăng 0,5% so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng CPI. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi tăng 6,1%, đóng góp khoảng 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; giá trứng tăng 2,7%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá trái cây tươi tăng 1,7%, đóng góp khoảng 0,03 điểm phần trăm; giá thủy sản giảm 1,8%, kéo CPI giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm; và giá thịt lợn giảm 0,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm.
Trong số bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ chính còn lại, bốn nhóm chứng kiến mức tăng giá, một nhóm giữ nguyên và hai nhóm giảm so với tháng trước. Cụ thể, giá hàng hóa và dịch vụ khác và quần áo tăng lần lượt 1,3% và 0,7%; giá hàng hóa và dịch vụ gia đình và chăm sóc sức khỏe tăng lần lượt 0,3% và 0,2%; giá nhà ở giữ nguyên; trong khi giá giao thông và liên lạc và giáo dục, văn hóa và giải trí giảm lần lượt 0,9% và 0,4%.


Tăng trưởng CPI cốt lõi so với cùng kỳ tiếp tục mở rộng vào tháng 9 năm 2025
Mức giảm PPI so với cùng kỳ thu hẹp thêm
—Bà Đổng Lệ Quyên, Chuyên gia Thống kê Chính của Cục Thống kê Quốc gia (NBS), Giải thích Dữ liệu CPI và PPI tháng 9 năm 2025
Vào tháng 9, thị trường tiêu dùng vận hành ổn định t tổng thể. Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. CPI cốt lõi, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,0% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng thứ năm liên tiếp tăng trưưởng mở rộng. Khi việc phát triển một thị trường quốc gia thống nhất tiến triển và trật tự cạnh tranh thị trường tiếp tục được cải thiện, Chỉ số Giá sản xuất công nghiệp (PPI) giữ nguyên so với tháng trước; nó giảm 2,3% so với cùng kỳ, với tốc độ giảm thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước.tháng.
I. CPI chuyển từ bằng phẳng sang tăng so với tháng trước, tăng trưưởng CPI lõi so với cùng kỳ phục hồi lên 1%
CPI cho thấy sự phục hồi so với tháng trước, chuyển từ mức bằng phẳng trong tháng trước sang mức tăng 0.1%. Giá thực phẩm tăng 0.7% so với tháng trước, với tốc độ tăng trưưởng mở rộng thêm 0.2 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0.13 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Trong thực phẩm, giá rau tươi, trứng, trái cây tươi, thịt c cừu và thịt bò đều cho thấy mức tăng theo mùa, dao động trong khoảng từ 0.9% đến 6.1%; trong khi đó, thịt lợn và thủy sản có nguồn cung dồi dào, với giá của chúng lần lượt giảm 0.7% và 1.8%. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp không bao gồm năng lượng tăng 0.5% so với tháng trước, đóng góp khoảng 0.12 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Trong số này, giá trang sức vàng trong nước tăng 6.5%, chịu ảnh hưưởng của giá vàng quốc tế tăng; giá quần áo tăng 0.8% do hàng mới mùa thu; và giá hàng bền lâu giải trí, thiết bị gia dụng, và đồ dùng gia đình hàng ngày lần lượt tăng 0.9%, 0.6% và 0.6%. Chịu ảnh hưởng của sự sụt giảm giá dịch vụ và năng lượng, mức tăng CPI so với tháng trước thấp hơn một chút so với mức theo mùa. Giá dịch vụ giảm 0.3%, góp phần làm giảm khoảng 0.12 điểm phần trăm trong CPI so với tháng trước. Trong đó, do kết thúc mùa du lịch hè và Tết Trung thu rơi vào một tháng khác so với các năm trước, giá vé máy bay, chỗ ở khách sạn và du lịch giảm lần lượt 13.8%, 7.4% và 6.1%, cùng nhau đóng góp vào mức giảm khoảng 0.17 điểm phần trăm trong CPI so với tháng trước. Giá năng lượng giảm 0.8%, với giá xăng trong nước giảm 1.7% do biến động giá dầu quốc tế.
CPI giảm 0.3% so với cùng kỳ, với mức giảm thu hẹp 0.1 điểm phần trăm so với tháng trước. Mức giảm so với cùng kỳ của CPI chủ yếu là do hiệu ứng kéo dài. Trong mức thay đổi 0.3% so với cùng kỳ của CPI tháng này, hiệu ứng kéo dài là khoảng -0.8 điểm phần trăm, trong khi tác động mới từ biến động giá năm nay là khoảng 0.5 điểm phần trăm. Theo danh mục, giá thực phẩm và năng lượng giảm. Giá thực phẩm giảm 4.4%, với mức giảm mở rộng thêm 0.1 điểm phần trăm so với tháng trước, góp phần làm giảm khoảng 0.83 điểm phần trăm trong CPI so với cùng kỳ, trở thành nhân tố chính thúc đẩy mức giảm so với cùng kỳ của CPI.Trong các mặt hàng thực phẩm, giá thịt lợn, rau tươi, trứng và trái cây tươi lần lượt giảm 17,0%, 13,7%, 13,5% và 4,2%, cùng nhau đóng góp vào mức giảm khoảng 0,78 điểm phần trăm trong CPI so với cùng kỳ năm trước; giá thịt bò và thịt c cừu lần lượt tăng 4,6% và 0,8%, với giá thịt cừu tăng lần đầu tiên sau 44 tháng giảm liên tiếp. Giá năng lượng giảm 2,7%, đóng góp vào mức giảm khoảng 0,2 điểm phần trăm trong CPI so với cùng kỳ năm trước. CPI lõi, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu tháng thứ năm liên tiếp tốc độ tăng trưưởng mở rộng và lần đầu tiên trong gần 19 tháng tốc độ tăng trưởng trở lại mức 1%. Trong đó, giá hàng tiêu dùng công nghiệp loại trừ năng lượng tăng 1,8%, với tốc độ tăng trưởng mở rộng tháng thứ năm liên tiếp. Trong hàng tiêu dùng công nghiệp, giá trang sức vàng và trang sức bạch kim lần lượt tăng 42,1% và 33,6%, trong khi giá đồ gia dụng, đồ dùng gia đình hàng ngày và công cụ viễn thông tăng lần lượt 5,5%, 3,2% và 1,5%, với tất cả tốc độ tăng trưởng đều mở rộng. Giá dịch vụ tăng 0,6%, duy trì tương đối ổn định, với giá dịch vụ y tế và dịch vụ gia đình tăng lần lượt 1,9% và 1,6%, trong khi giá lưu trú khách sạn và vé máy bay giảm lần lượt 1,5% và 1,7%.
II. PPI Ổn Định So Với Tháng Trước, Mức Giảm So Với Cùng Kỳ Tiếp Tục Thu Hẹp
PPI ổn định so với tháng trước trong tháng thứ hai liên tiếp. Đặc điểm chính của diễn biến PPI so với tháng trước trong tháng này là: Thứ nhất, cải thiện trong cấu trúc cung-cầu thúc đẩy sự ổn định giá rõ rệt trong một số ngành. Giá chế biến than tăng 3,8% so với tháng trước, giá khai thác và rửa than tăng 2,5% so với tháng trước, và giá luyện kim và gia công cán thép đen tăng 0,2% so với tháng trước, tất cả đều tăng trong hai tháng liên tiếp; giá sản xuất thiết bị và linh kiện quang điện chuyển từ mức giảm 0,2% tháng trước sang tăng 0,8% so với tháng trước. Giá sản phẩm khoáng sản phi kim loại và sản xuất pin lithium-ion giảm lần lượt 0,4% và 0,2% so với tháng trước, với mức giảm thu hẹp 0,6 và 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước.Thứ hai, các yếu tố nhập khẩu khiến giá ngành công nghiệp liên quan đến dầu mỏ trong nước giảm theo tháng。 Giá dầu quốc tế giảm kéo theo giá các ngành công nghiệp liên quan đến dầu mỏ trong nước đi xuống。 Cụ thể, giá khai thác dầu thô giảm 2,7%, giá sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 1,5%, giá sản xuất nguyên liệu hóa chất hữu cơ giảm 0,6%, và giá sản xuất sợi hóa học giảm 0,2%。
Chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, với mức giảm thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước。 Ngoài cơ sở so sánh thấp hơn từ cùng kỳ năm ngoái, tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc tiếp tục thể hiện, với một số ngành công nghiệp cho thấy biến động giá tích c cực。 Thứ nhất, việc thúc đẩy sâu rộng thị trường thống nhất toàn quốc góp phần thu hẹp mức giảm giá theo năm cho các ngành công nghiệp liên quan。 Quản lý công suất trong một số lĩnh vực cho thấy kết quả, trật tự cạnh tranh thị trường tiếp tục cải thiện, và mức giảm giá theo năm thu hẹp。 Mức giảm giá cho chế biến than, luyện kim đen, khai thác và rửa than, sản xuất thiết bị và linh kiện quang điện, sản xuất pin, và sản phẩm khoáng sản phi kim loại thu hẹp lần lượt 8,3; 3,4; 3,0; 2,4; 0,5; và 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước。 Sáu ngành công nghiệp này giảm lực kéo xuống đối với PPI theo năm khoảng 0,34 điểm phần trăm so với tháng trước。 Thứ hai, nâng cấp cơ cấu công nghiệp và giải phóng tiềm năng tiêu dùng thúc đẩy tăng giá theo năm trong các ngành công nghiệp liên quan。 Việc xây dựng hệ thống công nghiệp hiện đại được tăng tốc, xu hướng tích cực trong phát triển cao cấp, thông minh và xanh của sản xuất, và mở rộng ổn định nhu cầu thị trường dẫn đến tăng 1,4% giá sản xuất máy bay theo năm, tăng 1,2% giá sản xuất vật liệu chuyên dụng điện tử, tăng 0,9% giá ngành công nghiệp tận dụng t tổng hợp tài nguyên thải, và tăng 0,1% giá sản xuất thiết bị thông minh đeo được。 Tác động của chính sách thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục xuất hiện, với nhu cầu tiêu dùng chất lượng và nâng cấp được giải phóng, dẫn đến tăng 14,7% giá sản xuất sản phẩm nghệ thuật, thủ công và nghi lễ theo năm, tăng 4,0% giá sản xuất bóng thể thao, và tăng 1,8% giá sản xuất thực phẩm dinh dưưỡng。