[Phân tích SMM] Trung Quốc áp dụng kiểm soát xuất khẩu đối với pin lithium và vật liệu then chốt, bao gồm pin cao cấp và c cực dương graphit nhân tạo

Đã xuất bản: Oct 9, 2025 17:12
Nguồn: SMM
Bối cảnh ngành công nghiệp pin quốc tế đang trải qua một đợt điều chỉnh mới, khi Trung Quốc áp dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu quan trọng nhằm tăng cường rào chắn an ninh quốc gia.

Ngày 9 tháng 10 năm 2025, Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan đã cùng ban hành Công báo số 58 năm 2025, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với các mặt hàng liên quan đến pin lithium, vật liệu cathode và vật liệu anode graphit. Biện pháp này sẽ có hiệu lực từ ngày 8 tháng 11 năm 2025, nhằm bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ quốc tế như không phổ biến vũ khí.

Theo công báo, các mặt hàng bị kiểm soát bao gồm pin lithium-ion cao cấp có mật độ năng lượng khối lượng lớn hơn hoặc bằng 300 Wh/kg, thiết bị sản xuất pin then chốt, các loại vật liệu cathode và tiền chất của chúng, cũng như vật liệu anode graphit nhân tạo cùng với thiết bị và công nghệ sản xuất liên quan.

Đây là diễn biến mới nhất trong một loạt biện pháp kiểm soát của Trung Quốc trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản trọng điểm, sau các biện pháp kiểm soát tương tự trước đó đối với công nghệ chế tạo vật liệu cathode pin và các mặt hàng đất hiếm.


Công báo gốc:

Công báo số 58 năm 2025 của Bộ Thương mại, Tổng c cục Hải quan về Quyết định Áp dụng Kiểm soát Xuất khẩu đối với Các Mặt hàng Liên quan đến Pin Lithium và Vật liệu Anode Graphit Nhân tạo

Căn cứ vào quy định của Luật Kiểm soát Xuất khẩu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật Ngoại thương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật Hải quan Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Quy định về Kiểm soát Xuất khẩu Hàng hóa Lưỡng dụng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và để bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia, thực hiện các nghĩa vụ quốc tế như không phổ biến, được Quốc vụ viện phê chuẩn, quyết định áp dụng kiểm soát xuất khẩu đối với các mặt hàng sau:

I. Các mặt hàng liên quan đến pin lithium

(a) 3A001 Pin lithium-ion có thể sạc lại (bao gồm cell pin và bộ pin) có mật độ năng lượng khối lượng lớn hơn hoặc bằng 300 Wh/kg (Mã dòng thuế tham khảo: 85076000).

(b) 3B901.a. Thiết bị sử dụng để sản xuất pin lithium-ion có thể sạc lại:

1. Máy cuốn (Mã dòng thuế tham khảo: 84798999);

2. Máy xếp chồng (Mã dòng thuế tham khảo: 84798999);

3. Máy nạp điện giải (Mã dòng thuế tham khảo: 84798999);

4. Máy ép nhiệt;

5. Hệ thống hình thành và phân loại dung lượng;

6. Tủ phân loại dung lượng.

(c) 3E901.a. Công nghệ được sử dụng để sản xuất các mặt hàng được kiểm soát theo mục 3A001.

II. Các mặt hàng liên quan đến vật liệu cathode

(a) 3C901.a.1. Vật liệu cathode LFP có mật độ nén lớn hơn hoặc bằng 2,5 g/cm³ và dung lượng mỗi gam lớn hơn hoặc bằng 156 mAh/g (Mã thuế tham chiếu: 28429040).

(b) 3C901.a.2. Các mặt hàng liên quan đến nguyên liệu tiền chất cho vật liệu cathode ba thành phần:

a. Hydroxit nickel-coban-mangan (Mã thuế tham chiếu: 28539030);

b. Hydroxit nickel coban nhôm (Tham chiếu Mục Thuế: 28539050).

(c) 3C901.a.3. Vật liệu cathode dựa trên mangan giàu lithium.

(d) 3B901.b. Thiết bị sản xuất vật liệu cathode cho pin lithium-ion sạc lại:

1. Lò nung băng chuyền;

2. Máy trộn tốc độ cao;

3. Máy xay cát;

4. Máy nghiền dòng khí.

III. Các mặt hàng liên quan đến vật liệu anode than chì

(a) 3C901.b.1. Vật liệu anode than chì nhân tạo.

(b) 3C902.b.2. Vật liệu anode gồm hỗn hợp than chì nhân tạo và than chì tự nhiên.

(c) 3B901.c.1. Thiết bị quy trình hạt hóa để sản xuất vật liệu anode than chì:

a. Phản ứng hạt hóa đứng với thể tích hạt hóa lớn hơn hoặc bằng 5 m³;

b. Phản ứng hạt hóa liên tục với thể tích hạt hóa lớn hơn hoặc bằng 5 m³.

(d) 3B901.c.2. Thiết bị graphit hóa để sản xuất vật liệu anode than chì:

a. Lò hộp;

b. Lò Acheson;

c. Lò chuỗi trong;

d. Lò graphit hóa liên tục.

(e) 3B901.c.3. Thiết bị cải tiến phủ để sản xuất vật liệu anode than chì:

a. Thiết bị phủ nóng chảy với thể tích lớn hơn 300 lít;

b. Thiết bị sấy phun với thể tích lớn hơn 60 m³;

c. Lò xoay CVD với đường kính thùng lớn hơn 0,5 m.

(f) 3E901.b. Công nghệ và Quy trình Sản xuất Vật liệu Cực dương Graphite:

1. Quy trình Tạo hạt;

2. Công nghệ Graphit hóa Liên tục;

3. Công nghệ Phủ Pha Lỏng.

Doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng nêu trên phải nộp đơn xin giấy phép tại Bộ Thương mại trực thuộc Quốc vụ viện theo quy định của Luật Kiểm soát Xuất khẩu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Quy định về Kiểm soát Xuất khẩu Hàng hóa Hai Mặt dụng.

Doanh nghiệp xuất khẩu chịu trách nhiệm về tính xác thực của hàng hóa khai báo, tăng cường xác định mặt hàng xuất khẩu. Đối với mặt hàng chịu kiểm soát, phải ghi rõ "Chịu Kiểm soát Hàng hóa Hai Mặt dụng" trong cột ghi chú t tờ khai hải quan và liệt kê mã kiểm soát; đối với mặt hàng không chịu kiểm soát nhưng có thông số, chỉ tiêu hoặc tính năng gần với mặt hàng kiểm soát, phải ghi "Không thuộc diện kiểm soát" trong cột ghi chú và cung cấp thông số, chỉ tiêu c cụ thể. Nếu thông tin khai báo không đầy đủ, chính xác hoặc đáng nghi ngờ, hải quan sẽ chất vấn theo pháp luật, và trong thời gian chất vấn, hàng hóa xuất khẩu sẽ không được thông quan.

Thông báo này có hiệu lực từ ngày 8 tháng 11 năm 2025.《Danh mục Kiểm soát Xuất khẩu Hàng hóa Hai Mặt dụng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã được cập nhật đồng thời.

Bộ Thương mại     Tổng cục Hải quan

Ngày 9 tháng 10 năm 2025


Phân tích SMM

I. Phạm vi Kiểm soát Bao phủ Toàn diện: Từ Pin Thành phẩm đến Công nghệ Sản xuất

Theo Thông báo số 58 năm 2025 của Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan, biện pháp kiểm soát xuất khẩu bao trùm nhiều phân khúc then chốt trong chuỗi công nghiệp pin lithium-ion.

Đối với pin lithium-ion cao cấp, kiểm soát nhắm vào pin lithium-ion sạc lại được có mật độ năng lượng khối lượng lớn hơn hoặc bằng 300 Wh/kg, bao gồm cell pin và bộ pin.

Chỉ tiêu kỹ thuật này vượt xa mức pin công suất thông thường và bao phủ các sản phẩm pin tiên tiến nhất hiện nay.

Thiết bị sản xuất pin cũng được đưa vào phạm vi kiểm soát, bao gồm thiết bị lõi như máy cuốn, máy xếp lớp, máy bơm điện giải, máy ép nhiệt, hệ thống hình thành và phân loại, cùng tủ phân loại.

Các thiết bị này rất quan trọng để xây dựng dây chuyền sản xuất pin và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất và chất lượng của sản phẩm pin.

Trong lĩnh vực vật liệu cathode, các biện pháp kiểm soát liên quan đến vật liệu LFP mật độ nén cao (mật độ nén ≥ 2,5 g/cm³ và dung lượng trên mỗi gram ≥ 156 mAh/g), tiền chất cho vật liệu cathode ternary (hydroxit niken-coban-mangan, hydroxit niken-coban-nhôm), và vật liệu cathode gốc mangan giàu lithi.

Về vật liệu anode graphite, vật liệu anode graphite nhân tạo và hỗn hợp của chúng với graphite tự nhiên được đưa vào kiểm soát.

Đồng thời, thiết bị quy trình viên hóa, thiết bị graphit hóa và thiết bị cải tiến phủ dùng để sản xuất vật liệu anode graphite, cũng như các công nghệ quy trình liên quan, cũng bị hạn chế.

Điều quan trọng cần làm rõ là kiểm soát không đồng nghĩa với cấm đoán. Mục đích chính của các biện pháp kiểm soát này chủ yếu nhằm hạn chế việc xây dựng cục bộ chuỗi công nghiệp pin lithi ở nước ngoài và sự phát triển của công nghệ cao cấp.

II. Bố cục Chính sách Chính xác: Cân bằng giữa Duy trì An ninh và Đảm bảo Công nghiệp

Việc giới thiệu chính sách này tuân theo cách tiếp cận kiểm soát chính xác nhất quán của Trung Quốc trong các lĩnh vực tài nguyên chiến lược trọng điểm.

Về cơ sở pháp lý, biện pháp này được thực hiện sau khi được Quốc vụ viện phê chuẩn, dựa trên các quy định có liên quan của Luật Kiểm soát Xuất khẩu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật Ngoại thương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luật Hải quan Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Quy định về Kiểm soát Xuất khẩu các Mặt hàng Song công.

Khi giải thích về các biện pháp tương tự, một phát ngôn viên của Bộ Thương mại tuyên bố rằng đây là một "biện pháp cụ thể để thích ứng với tình hình thay đổi của sự phát triển công nghệ Trung Quốc và cải thiện quản lý thương mại công nghệ," nhằm mục đích "bảo vệ an ninh kinh tế và lợi ích phát triển quốc gia, và thúc đẩy hợp tác kinh tế và công nghệ quốc tế."

Phân tích từ góc độ kỹ thuật, biện pháp kiểm soát này tập trung vào pin lithi cao cấp và vật liệu, và không liên quan đến toàn bộ chuỗi công nghiệp.

Ví dụ, các hạn chế chỉ áp dụng cho pin cao cấp có mật độ năng lượng ≥300 Wh/kg, một tiêu chuẩn vượt quá mức độ của hầu hết các loại pin điện hiện có.

III. Tác động công nghiệp sâu sắc: Định hình lại bức tranh chuỗi cung ứng pin toàn cầu

Trung Quốc nắm giữ vị thế thống trị trong chuỗi ngành công nghiệp pin lithium toàn cầu, và các hạn chế xuất khẩu này sẽ tác động đáng kể đến quá trình địa phương hóa sản xuất pin lithium ở nước ngoài.

Theo dữ liệu ngành, Trung Quốc chiếm hơn 70% thị phần toàn cầu cả về vật liệu cathode và anode cho pin lithium, và thị phần công suất trong khâu sản xuất pin vượt quá 80%.

Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến bức tranh cung ứng toàn cầu đối với sản phẩm pin cao cấp.

Các nhà sản xuất pin quốc tế có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung pin lithium-ion cao cấp hoặc cần đẩy nhanh hoạt động R&D công nghệ và xây dựng năng lực của chính mình.

Các nhà sản xuất ô tô NEV nước ngoài phụ thuộc vào sản phẩm pin cao cấp có thể gặp áp lực điều chỉnh chuỗi cung ứng, đòi hỏi phải đánh giá lại lộ trình công nghệ pin và lựa chọn nhà cung cấp.

Đối với chuỗi ngành công nghiệp trong nước, có thể có áp lực điều chỉnh thị trường trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài, điều này có lợi cho việc duy trì lợi thế dẫn đầu của Trung Quốc trong lĩnh vực pin cao cấp.

Đồng thời, chính sách sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp pin Trung Quốc tập trung hơn vào thị trường nội địa, đẩy nhanh việc ứng dụng và phổ biến công nghệ pin cao cấp trong nước.

IV. Hướng dẫn tuân thủ doanh nghiệp: Làm rõ yêu cầu khai báo và trách nhiệm pháp lý

Theo thông báo, các t tổ chức, cá nhân xuất khẩu các mặt hàng nêu trên phải nộp đơn xin giấy phép cho cơ quan thương mại có thẩm quyền trực thuộc Quốc vụ viện theo quy định liên quan.

Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính xác thực của hàng hóa đã khai và phải tăng cường việc xác định mặt hàng xuất khẩu.

Đối với mặt hàng thuộc diện kiểm soát, cột ghi chú trên tờ khai hải quan phải ghi "Thuộc diện hàng hóa hai công dụng" và liệt kê mã kiểm soát xuất khẩu hàng hóa hai công dụng; đối với mặt hàng không thuộc diện kiểm soát nhưng có thông số, chỉ tiêu hoặc tính năng gần với mặt hàng bị kiểm soát, cột ghi chú phải ghi "Không thuộc diện mặt hàng kiểm soát" và nêu rõ các thông số, chỉ tiêu thực tế.

Nếu tính đầy đủ, chính xác hoặc xác thực của thông tin khai báo bị nghi ngờ, hải quan sẽ chất vấn theo quy định pháp luật, và trong thời gian chất vấn, hàng hóa xuất khẩu sẽ không được thông quan.

Doanh nghiệp cần thiết lập cơ chế tuân thủ nội bộ toàn diện để tiến hành đánh giá nghiêm ngặt các mặt hàng dự định xuất khẩu, đảm bảo chúng đáp ứng các yêu cầu quy định.

Trong trường hợp không chắc chắn liệu một mặt hàng có chịu sự kiểm soát hay không, nên tham khảo ý kiến qua các kênh chính thức để tránh trách nhiệm pháp lý do xuất khẩu không tuân thủ.

V. Kết luận

Với việc áp dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Trung Quốc, các doanh nghiệp pin tại Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như châu Âu và Mỹ, sẽ đối mặt với thách thức kép về nguồn cung nguyên vật liệu cao cấp và tiếp cận công nghệ. Trong ngắn hạn, các dự án xe điện cao cấp toàn cầu và hệ thống lưu trữ năng lượng mật độ cao có thể đối mặt với áp lực chuỗi cung ứng. Đồng thời, ngành công nghiệp pin điện lực của Trung Quốc, được thúc đẩy bởi hai mục tiêu an ninh quốc gia và lợi thế cạnh tranh công nghiệp, đã bước vào giai đoạn phát triển mới.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
[Phân tích SMM] Quá trình chuyển đổi từ xe hybrid sang BEV chậm lại giúp giảm áp lực ngắn hạn lên chuỗi cung ứng từ spodumene đến muối lithium
4 giờ trước
[Phân tích SMM] Quá trình chuyển đổi từ xe hybrid sang BEV chậm lại giúp giảm áp lực ngắn hạn lên chuỗi cung ứng từ spodumene đến muối lithium
Đọc thêm
[Phân tích SMM] Quá trình chuyển đổi từ xe hybrid sang BEV chậm lại giúp giảm áp lực ngắn hạn lên chuỗi cung ứng từ spodumene đến muối lithium
[Phân tích SMM] Quá trình chuyển đổi từ xe hybrid sang BEV chậm lại giúp giảm áp lực ngắn hạn lên chuỗi cung ứng từ spodumene đến muối lithium
SMM ngày 17 tháng 8: Nhu cầu kim loại pin đang đối mặt với quỹ đạo tăng trưởng dần dần hơn khi các hãng ô tô và nhà cung cấp cho thấy xe hybrid và hệ thống mở rộng tầm hoạt động sẽ tiếp tục giữ vai trò đáng kể lâu hơn nhiều so với các mốc thời gian chuyển đổi sang BEV hoàn toàn trước đây, kéo theo tác động trực tiếp đến tốc độ mà tinh quặng spodumene phải được chuyển hóa thành lithium carbonate (LC) và lithium hydroxide (LH) ở hạ nguồn. Các lãnh đạo ngành cho rằng tiến độ khử carbon nên được đo bằng mức giảm phát thải tổng thể thay vì chỉ dựa trên tỷ lệ thâm nhập BEV, trong đó một lãnh đạo mảng hệ truyền động dự báo đến năm 2040, một nửa xe du lịch vẫn có thể sử dụng một dạng động cơ đốt trong hoặc hệ thống hybrid. Đối với chuỗi cung ứng lithium, dung lượng bộ pin là biến số then chốt hơn là số lượng xe. Xe hybrid và xe có hệ thống mở rộng tầm hoạt động vẫn cần bộ pin lithium-ion, nhưng chỉ bằng một phần nhỏ dung lượng so với BEV thuần, đồng nghĩa mỗi xe hybrid bán ra tiêu thụ LC hoặc LH trên mỗi xe ít hơn đáng kể so với một BEV tương đương. Lithium vẫn được hỗ trợ về mặt cấu trúc trong hầu như mọi lộ trình điện hóa, khác với nickel, cobalt và manganese—những kim loại gắn chặt hơn với các hóa học giàu nickel dùng cho BEV tầm xa. Một giai đoạn hybrid kéo dài sẽ làm chậm tốc độ các bộ pin BEV cỡ lớn hấp thụ “đơn vị” lithium, qua đó giảm áp lực phải nhanh chóng đưa công suất chuyển đổi LC/LH vào vận hành, ngay cả khi các dự án khai thác và tuyển quặng spodumene ở thượng nguồn tiếp tục tăng tốc hướng tới các mục tiêu sản lượng đã lên kế hoạch. Quỹ đạo nhu cầu cũng kéo theo hệ quả về logistics. Đường cong hấp thụ muối lithium cấp pin tăng chậm hơn giúp các đơn vị chuyển đổi và tinh luyện xử lý nguyên liệu spodumene từ châu Phi, Australia và Nam Mỹ có thêm dư địa để đưa công suất hydroxide và carbonate vào vận hành mà không phải đối mặt với áp lực nghẽn cổ chai gay gắt như kịch bản BEV tăng tốc dốc đứng, đồng thời cho phép nhà sản xuất và đơn vị chuyển đổi sắp xếp lịch giao hàng CIF phù hợp hơn với một mốc thời gian chuyển đổi ít bị nén. Chính sách vẫn là biến số then chốt: khuôn khổ hiện tại của EU đặt mục tiêu cắt giảm 100% phát thải ống xả đối với xe mới và xe van từ năm 2035, về thực chất loại bỏ doanh số xe động cơ đốt trong nếu không có miễn trừ mới, dù các nhà cung cấp đang thúc đẩy cách tiếp cận trung lập công nghệ hơn, ghi nhận đóng góp của hybrid và hệ thống mở rộng tầm hoạt động. Nếu EU linh hoạt hơn, mốc thời gian mà nguồn cung spodumene cần chuyển đổi thành LC/LH cấp pin sẽ còn được kéo dài. Quan điểm SMM: Một kỷ nguyên hệ truyền động pha trộn kéo dài cho thấy cán cân cung–cầu “dễ thở” hơn trong ngắn hạn trên toàn chuỗi từ spodumene đến muối lithium, tạo thêm dư địa để các nhà sản xuất tinh quặng thượng nguồn và các đơn vị chuyển đổi LC/LH hạ nguồn điều chỉnh tăng trưởng công suất theo mức hấp thụ offtake thực tế thay vì phải chạy đua theo đường cầu BEV thuần đầy quyết liệt. Điều này có thể làm giảm tính cấp bách của một số kế hoạch mở rộng công suất chuyển đổi đang triển khai tại các khu vực sản xuất và chế biến chủ chốt, trong khi luận điểm nền tảng cho tăng trưởng nguồn cung spodumene vẫn vững chắc do lithium hiện diện trong gần như mọi lộ trình điện hóa. SMM sẽ tiếp tục theo dõi cách các giả định về cơ cấu hệ truyền động tác động đến giá spodumene, hiệu quả kinh tế chuyển đổi và kế hoạch logistics trên các hành lang xuất khẩu trọng điểm.
4 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Sigma Lithium báo cáo biên lợi nhuận kỷ lục trong quý II, đẩy nhanh mở rộng công suất, gây áp lực lên nguồn cung toàn cầu
5 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Sigma Lithium báo cáo biên lợi nhuận kỷ lục trong quý II, đẩy nhanh mở rộng công suất, gây áp lực lên nguồn cung toàn cầu
Đọc thêm
[Tin nhanh SMM] Sigma Lithium báo cáo biên lợi nhuận kỷ lục trong quý II, đẩy nhanh mở rộng công suất, gây áp lực lên nguồn cung toàn cầu
[Tin nhanh SMM] Sigma Lithium báo cáo biên lợi nhuận kỷ lục trong quý II, đẩy nhanh mở rộng công suất, gây áp lực lên nguồn cung toàn cầu
SMM ngày 17/8: Sigma Lithium Corporation, nhà sản xuất tinh quặng oxit lithium lớn nhất châu Mỹ, công bố kết quả quý II kỷ lục với biên EBITDA đạt 47%, tăng 39% so với quý trước và cao nhất trong lịch sử công ty. Doanh nghiệp vận hành dự án Grota do Cirilo tại Brazil đã bán 24.400 tấn tinh quặng oxit lithium trong quý, đạt doanh thu thuần 55 triệu USD, với giá bán bình quân 2.089 USD/tấn, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận hoạt động lần lượt đạt 60% và 32%, được hỗ trợ bởi mức giảm chi phí mạnh: chi phí tại cổng nhà máy giảm 36% so với quý trước xuống 401 USD/tấn, chi phí CIF giảm 33% so với quý trước xuống 452 USD/tấn, và chi phí duy trì toàn phần (AISC) giảm 6% so với quý trước xuống 668 USD/tấn, nhờ nâng cấp vận hành mỏ và sản lượng tăng 50%. Tổng nợ đã giảm 25% so với quý II năm ngoái. Cải thiện biên lợi nhuận diễn ra khi Sigma tiến sâu hơn vào giai đoạn mở rộng quyết liệt. Công ty đặt mục tiêu sản lượng 330.000 tấn/năm trong năm tài chính 2027, tăng từ mức chạy hiện tại 240.000 tấn/năm; hai nhà máy mới đang xây dựng dự kiến nâng công suất lắp đặt lên 580.000 tấn/năm vào cuối năm 2027 và 830.000 tấn/năm vào cuối năm 2028—tăng hơn gấp ba so với hiện tại. Quy mô mở rộng này đồng nghĩa các tấn sản lượng chi phí thấp của Sigma sẽ gia nhập thị trường tinh quặng toàn cầu đúng vào thời điểm các nhà sản xuất châu Phi đang tăng tốc năng lực tuyển–chế biến, khiến hai khu vực nguồn cung đối đầu trực diện hơn so với các năm trước. Các nhà máy sulphate do Trung Quốc hậu thuẫn tại Zimbabwe và dự án Goulamina của Mali nằm trong số các tài sản châu Phi đang mở rộng hướng tới sản xuất toàn công suất trong cùng giai đoạn 2026–2028; cả hai khu vực sẽ ngày càng cạnh tranh thị phần trên thị trường tinh quặng, vốn được dự báo sẽ hấp thụ lượng cung tăng đáng kể từ nhiều châu lục cùng lúc. Quan điểm SMM: Quỹ đạo chi phí của Sigma cho thấy hiệu quả kinh tế đơn vị có thể cải thiện mạnh đến mức nào khi một mỏ đá cứng đạt quy mô vận hành ổn định, đồng thời thiết lập một chuẩn mực khắt khe để các nhà sản xuất tinh quặng châu Phi bị đem ra so sánh khi họ đi qua các đường cong tăng công suất của riêng mình. Khi nguồn cung chi phí thấp từ châu Mỹ mở rộng nhanh, các dự án châu Phi vẫn đang tiến tới công suất tối đa sẽ chịu áp lực ngày càng lớn trong việc củng cố năng lực cạnh tranh chi phí và chốt các cam kết bao tiêu trước khi giá chuẩn tinh quặng chịu sức ép từ lượng cung toàn cầu bổ sung. SMM sẽ tiếp tục theo dõi cách nền cung đa khu vực đang mở rộng này định hình động lực giá trên toàn chuỗi giá trị từ spodumene đến hydroxide
5 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Hydroxit lithium DRC dẫn đầu đà tăng của khoáng sản, tăng 3,89% lên trên 20.000 USD/tấn khi các sản phẩm lithium khác giảm giá
5 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Hydroxit lithium DRC dẫn đầu đà tăng của khoáng sản, tăng 3,89% lên trên 20.000 USD/tấn khi các sản phẩm lithium khác giảm giá
Đọc thêm
[Tin nhanh SMM] Hydroxit lithium DRC dẫn đầu đà tăng của khoáng sản, tăng 3,89% lên trên 20.000 USD/tấn khi các sản phẩm lithium khác giảm giá
[Tin nhanh SMM] Hydroxit lithium DRC dẫn đầu đà tăng của khoáng sản, tăng 3,89% lên trên 20.000 USD/tấn khi các sản phẩm lithium khác giảm giá
Ngày 17/8, giá lithium hydroxide tại DRC tăng 3,89% lên 20.065,63 USD/tấn trong kỳ định giá 10–15/8/2026, tăng 751,34 USD/tấn so với mức 19.314,29 USD/tấn, trở thành mặt hàng tăng mạnh nhất trong nhóm khoáng sản xuất khẩu chủ lực của nước này. Tinh quặng thiếc (cassiterite) cũng tăng, tăng 1,67% lên 17.531,44 USD/tấn từ 17.243,55 USD/tấn. Các sản phẩm lithium khác giảm trong cùng kỳ. Lithium carbonate giảm 0,99% xuống 16.732,44 USD/tấn, trong khi lithium sulphate giảm cùng mức xuống 9.412 USD/tấn. Tinh quặng lithium ghi nhận mức giảm mạnh nhất trong nhóm, giảm 2,60% xuống 412 USD/tấn từ 423 USD/tấn. Ở các mặt hàng khác, tinh quặng tantalum giảm nhẹ 0,69% xuống 28.171,57 USD/tấn và nickel giảm 0,88% xuống 15.055,74 USD/tấn. Quan điểm SMM: Diễn biến phân hóa giữa hydroxide và phần còn lại của nhóm sản phẩm lithium tại DRC cho thấy lực cầu khác biệt dọc theo chuỗi giá trị, trong đó vật liệu đã chuyển đổi, đạt chuẩn pin được định giá cao hơn ngay cả khi tinh quặng thượng nguồn suy yếu. Với tỷ trọng lớn của khai khoáng trong nguồn thu xuất khẩu của DRC, việc hydroxide duy trì mạnh có thể củng cố lập luận cho chế biến sâu trong nước, dù mức độ tiếp xúc kéo dài của quốc gia này với biến động giá tinh quặng nhấn mạnh rủi ro khi phụ thuộc vào xuất khẩu quặng thô. SMM sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến giá khoáng sản của DRC cùng các phát triển rộng hơn của chuỗi cung ứng lithium tại châu Phi
5 giờ trước