[SMM Phân tích] Giải thích Dữ liệu Xuất khẩu Thép Tháng 8

Đã xuất bản: Sep 28, 2025 13:26
Nguồn: SMM
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan do SMM t tổng hợp, tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2025 đạt 86,737 triệu tấn, tăng 18,73% so với cùng kỳ năm trước. Ả Rập Xê Út ghi nhận mức tăng tích lũy lớn nhất, tăng 1,5224 triệu tấn so với cùng kỳ, tương đương mức tăng 61,66%. Trong tất cả các chủng loại thép xuất khẩu sang Ả Rập Xê Út, thép cán nóng (HRC) chiếm tỷ trọng chủ đạo với 23%, tiếp theo là thép tấm dày trung bình ở mức 18%, trong khi sản phẩm mạ và phôi thép cũng chiếm t tỷ trọng đáng kể lần lượt là 18% và 15%.

[Phân tích SMM] Giải thích dữ liệu xuất khẩu thép tháng 8

  • Theo quốc gia, Ả Rập Xê Út ghi nhận mức tăng lớn nhất so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi Việt Nam chứng kiến mức giảm lớn nhất so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo dữ liệu do SMM biên soạn từ Tổng cục Hải quan, tổng lượng thép xuất khẩu của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2025 đạt 86,737 triệu tấn, tăng 18,73% so với cùng kỳ năm ngoái. Ả Rập Xê Út ghi nhận mức tăng tích lũy lớn nhất, tăng 1,5224 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương mức tăng 61,66%. Trong tất cả các danh mục sản phẩm thép xuất khẩu sang Ả Rập Xê Út, thép cuộn cán nóng (HRC) chiếm ưu thế, chiếm 23%, tiếp theo là tấm thép dày trung bình chiếm 18%, trong khi sản phẩm mạ và phôi thép cũng chiếm tỷ trọng đáng kể lần lượt là 18% và 15%.

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM

Mặc dù Việt Nam vẫn là điểm đến xuất khẩu thép lớn nhất của Trung Quốc về khối lượng tích lũy, với tổng lượng xuất khẩu đạt 6,2882 triệu tấn, song nước này lại chứng kiến mức giảm lớn nhất so với cùng kỳ năm ngoái, giảm 20,63%. Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là các biện pháp chống bán phá giá ngày càng nghiêm ngặt của Việt Nam đối với các sản phẩm thép Trung Quốc, với năm phán quyết vụ việc được đưa ra cho đến nay trong năm nay. Ngày 18 tháng 9 năm nay, các doanh nghiệp Việt Nam một lần nữa đã nộp đơn yêu cầu điều tra chống tránh biện pháp đối với thép cuộn cán nóng từ Trung Quốc, cho thấy xuất khẩu cuộn cán nóng rộng của Trung Quốc sang Việt Nam cũng có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt trong tương lai, và khối lượng xuất khẩu thép từ Trung Quốc sang Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục giảm.

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM

Ø Theo sản phẩm, phôi thép ghi nhận mức tăng lớn nhất, trong khi thép cuộn cán nóng (HRC) chứng kiến mức giảm lớn nhất.

Theo dữ liệu do SMM biên soạn từ Tổng cục Hải quan, Trung Quốc đã xuất khẩu 11,275 triệu tấn sản phẩm thép trong tháng 8 năm 2025, trong đó tổng lượng xuất khẩu phôi thép đạt 1,7649 triệu tấn, chiếm 15,65% tổng lượng xuất khẩu của cả nước. Mặc dù con số này chỉ chiếm chưa đến một phần năm tổng lượng, song mức tăng tích lũy từ tháng 1 đến tháng 8 năm nay lên tới 291%, vượt xa so với các sản phẩm khác. Hiện tại, phôi thép ít phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt thương mại, với không quá năm vụ việc từ năm 2023 đến nay. Thông báo vụ việc liên quan gần đây nhất liên quan đến Ai Cập khởi xướng điều tra bảo hộ đối với phôi thép nhập khẩu. Tuy nhiên, tổng lượng thép phôi Trung Quốc xuất khẩu sang Ai Cập từ tháng 1 đến tháng 8 chỉ đạt 304,900 tấn, chiếm tỷ trọng 3,3% trong t tổng kim ngạch xuất khẩu thép phôi của Trung Quốc cùng kỳ. Tỷ lệ này tương đối nhỏ, do đó ngay cả khi các lệnh trừng phạt tiếp theo được áp dụng, tác động thực tế đến xuất khẩu thép phôi của Trung Quốc sẽ khá hạn chế và không cần quá lo ngại.

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM

Tuyên bố bản quyền và sở hữu trí tuệ:

Báo cáo này được độc lập tạo lập hoặc biên soạn bởi Công ty TNHH Công nghệ & Thông tin SMM (sau đây gọi tắt là "SMM"), và SMM được hưởng hợp pháp toàn bộ bản quyền cùng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan.

Bản quyền, quyền nhãn hiệu, quyền tên miền, quyền sở hữu thông tin dữ liệu thương mại cùng các quyền sở hữu trí tuệ liên quan khác đối với mọi nội dung trong báo cáo này (bao gồm nhưng không giới hạn ở thông tin, bài viết, dữ liệu, biểu đồ, hình ảnh, âm thanh, video, logo, quảng cáo, nhãn hiệu, tên thương mại, tên miền, thiết kế bố cục...) đều thuộc sở hữu hoặc nắm giữ bởi SMM hoặc các chủ thể quyền liên quan.

Các quyền trên được bảo hộ nghiêm ngặt theo quy định pháp luật có liên quan của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa như Luật Bản quyền, Luật Nhãn hiệu, Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh cùng các điều ước quốc tế áp dụng.

Nếu không có sự ủy quyền bằng văn bản trước từ SMM, mọi t tổ chức hoặc cá nhân không được:

1. Sử dụng toàn bộ hoặc một phần báo cáo dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm nhưng không giới hạn: tái bản, chỉnh sửa, bán, chuyển nhượng, trưng bày, dịch thuật, biên soạn, phổ biến);

2. Tiết lộ nội dung báo cáo cho bất kỳ bên thứ ba nào;

3. Cấp phép hoặc ủy quyền cho bên thứ ba sử dụng nội dung báo cáo;

4. Đối với mọi hành vi sử dụng trái phép, SMM sẽ theo đuổi trách nhiệm pháp lý của bên vi phạm theo quy định, yêu cầu họ gánh chịu các trách nhiệm pháp lý bao gồm nhưng không giới hạn ở trách nhiệm vi phạm hợp đồng, hoàn trả lợi nhuận bất chính, bồi thường thiệt hại kinh tế trực tiếp và gián tiếp.

Tuyên bố nguồn dữ liệu:

(Ngoại trừ thông tin công khai, các dữ liệu khác trong báo cáo này được t tổng hợp từ nguồn thông tin công khai (bao gồm nhưng không giới hạn tin tức ngành, hội thảo, triển lãm, báo cáo tài chính doanh nghiệp, báo cáo môi giới, số liệu Cục Thống kê Quốc gia, dữ liệu xuất nhập khẩu hải quan, các dữ liệu do hiệp hội và tổ chức lớn công bố...), trao đổi thị trường cùng phân tích t tổng hợp và suy luận hợp lý từ nhóm nghiên cứu dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ SMM. Thông tin này chỉ dùng để tham khảo và không cấu thành tư vấn quyết định.

SMM bảo lưu quyền giải thích cuối cùng đối với các điều khoản trong tuyên bố này và quyền điều chỉnh, sửa đổi nội dung tuyên bố theo tình hình thực tế.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
1 giờ trước
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Đọc thêm
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
【Giá than tăng thúc đẩy PTBA nâng mục tiêu sản lượng; sản lượng nửa cuối năm phải đạt 30,1 triệu tấn để hoàn thành kế hoạch cả năm】
Nhà sản xuất than quốc doanh Indonesia PTBA đã tăng nhẹ mục tiêu sản lượng năm 2026 lên 49,55 triệu tấn từ mức 49,5 triệu tấn, đồng thời đặt mục tiêu tiêu thụ và vận chuyển cả năm lần lượt là 49,51 triệu tấn và 41 triệu tấn. Mục tiêu sản lượng chỉ tăng 50.000 tấn, tương đương khoảng 0,1%, khiến bản thân điều chỉnh này có ý nghĩa trực tiếp rất hạn chế đối với nguồn cung thị trường. Quan trọng hơn, sản lượng nửa đầu năm của PTBA giảm 10% so với cùng kỳ xuống 19,45 triệu tấn. Để đạt mục tiêu cả năm, công ty phải sản xuất khoảng 30,1 triệu tấn trong nửa cuối năm, cao hơn khoảng 54,8% so với sản lượng nửa đầu năm. Công ty cũng phải tiêu thụ khoảng 28,41 triệu tấn trong giai đoạn này, cao hơn khoảng 34,6% so với lượng tiêu thụ nửa đầu năm, đồng nghĩa với việc phục hồi sản xuất phải được hỗ trợ bởi năng lực vận chuyển và tiêu thụ đầy đủ. Sản lượng quý II của PTBA tăng 94% so với quý trước, trong khi lượng tiêu thụ tăng 8%, cho thấy hoạt động đã bắt đầu phục hồi. Giá bán bình quân nửa đầu năm tăng 14% so với quý trước và 10% so với cùng kỳ, giúp doanh thu tăng 8% lên 22,03 nghìn tỷ rupiah và lợi nhuận ròng thuộc về công ty mẹ tăng 218% lên 2,65 nghìn tỷ rupiah. Giá và lợi nhuận mạnh hơn đã làm tăng động lực nâng cao sản lượng và tiêu thụ của công ty. Tiêu thụ nội địa của PTBA giảm 9% so với cùng kỳ xuống 10,77 triệu tấn trong nửa đầu năm, trong khi xuất khẩu tăng 5% lên 10,33 triệu tấn. Công ty cũng có ý định đẩy mạnh tiêu thụ xuất khẩu.
1 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
1 giờ trước
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Đọc thêm
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
【Sasol Đặt Kế Hoạch Cắt Giảm Lượng Mua Than Bên Ngoài Trong Năm Tài Chính 2027 và Nâng Sản Lượng Mỏ Tự Khai Thác Lên 34 Triệu Tấn Vào Năm 2028】
Nam Phi: Sasol tăng đầu tư vào các mỏ than tự khai thác để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho Secunda Operations, đồng thời giảm mua than từ các nhà cung cấp bên thứ ba. Công ty đã sản xuất 28,4 triệu tấn than từ các mỏ của mình trong năm tài chính 2026 và dự kiến con số này sẽ tăng lên khoảng 30–32 triệu tấn trong năm tài chính 2027, trước khi tăng tiếp lên 34 triệu tấn vào năm 2028. Trong khi đó, Sasol kỳ vọng lượng than mua ngoài sẽ giảm từ 8,8 triệu tấn trong năm tài chính 2026 xuống còn 5–7 triệu tấn trong năm tài chính 2027, tương ứng mức giảm từ 1,8–3,8 triệu tấn, tức khoảng 20,5–43,2%. Sự thay đổi này chủ yếu phản ánh việc Sasol thay thế than mua ngoài bằng than từ các mỏ tự khai thác và không đồng nghĩa với việc tổng nhu cầu than của công ty giảm tương đương. Công ty cho biết việc tăng tỷ trọng than tự khai thác sẽ giúp duy trì chất lượng than ổn định, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và cải thiện khả năng cạnh tranh về chi phí. Sasol đã đầu tư 1 tỷ rand để chuyển đổi nhà máy rửa than xuất khẩu Twistdraai thành cơ sở loại bỏ đá. Cơ sở này hiện đang cung cấp than đã qua chế biến với tỷ trọng chìm dưới 12%. Chất lượng than được cải thiện, hệ số khả dụng của thiết bị khí hóa cao hơn và việc không phải dừng bảo dưỡng trong năm tài chính 2026 đã góp phần đưa sản lượng hàng năm tại Secunda Operations lên mức cao nhất trong 5 năm là 7,2 triệu tấn. Với kế hoạch dừng bảo dưỡng định kỳ trong năm tài chính 2027, công ty dự kiến cơ sở này sẽ sản xuất từ 7,2–7,4 triệu tấn trong năm. Chi phí vốn cho hoạt động khai thác mỏ đã tăng từ 2,9 tỷ rand trong năm tài chính 2024 lên 4,1 tỷ rand trong năm tài chính 2026 và dự kiến sẽ tăng thêm 1–1,5 tỷ rand trong năm tài chính 2027, bao gồm khoản đầu tư cho dự án thay thế giếng mỏ. Ngoài ra, Sasol đang đánh giá việc sản xuất khí giàu methane từ than như một nguồn cung cầu nối cho các khách hàng công nghiệp có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung khí từ năm 2028 trở đi. Tuy nhiên, dự án vẫn cần sự chắc chắn hơn về giá dài hạn và đánh giá pháp lý sâu hơn, và công ty vẫn chưa đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng.
1 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
1 giờ trước
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Đọc thêm
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
【Sical Logistics Trúng Thầu Hợp Đồng Khai Thác Mỏ Ấn Độ Kéo Dài 5 Năm, Bao Phủ Khoảng 9,1 Triệu Tấn Than】
Công ty dịch vụ kỹ thuật và hậu cần tích hợp Ấn Độ Sical Logistics đã trúng thầu hợp đồng khai thác mỏ kéo dài 5 năm trị giá khoảng 5,3473 tỷ rupee từ Central Coalfields Limited cho hoạt động khai thác và vận chuyển đất đá hạng nặng tại mỏ SDOC ở huyện Bokaro, bang Jharkhand. Hợp đồng bao gồm việc bốc xúc lại khoảng 20,14 triệu mét khối đất phủ, loại bỏ khoảng 33,65 triệu mét khối đất phủ cứng và khai thác khoảng 9,104 triệu tấn than từ khu vực khai thác rộng 143 ha. Giá trị hợp đồng đã bao gồm 18% thuế hàng hóa và dịch vụ, trong khi thời gian thực hiện là 1.825 ngày. Tính trung bình đơn giản trong 5 năm, sản lượng than theo hợp đồng đạt khoảng 1,82 triệu tấn mỗi năm.
1 giờ trước
[SMM Phân tích] Giải thích Dữ liệu Xuất khẩu Thép Tháng 8 - Shanghai Metals Market (SMM)