Cục Thống kê Quốc gia (NBS): CPI tháng 8 giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, CPI lõi tiếp tục phục hồi, mức giảm PPI so với cùng kỳ thu hẹp.

Đã xuất bản: Sep 10, 2025 09:59

Theo số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước vào tháng 8 năm 2025. Cụ thể, khu vực thành thị giảm 0,3% trong khi khu vực nông thôn giảm 0,6%. Giá thực phẩm giảm 4,3%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,5%. Giá hàng tiêu dùng giảm 1,0%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,6%. Từ tháng 1 đến tháng 8, CPI trung bình giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 8, CPI không thay đổi so với tháng trước. Khu vực thành thị không có thay đổi, trong khi khu vực nông thôn tăng nhẹ 0,1%. Giá thực phẩm tăng 0,5%, trong khi giá phi thực phẩm giảm 0,1%. Giá hàng tiêu dùng tăng 0,1%, với giá dịch vụ ổn định. Số liệu NBS cũng cho thấy chỉ số giá sản xuất (PPI) cho sản phẩm công nghiệp giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước vào tháng 8, thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước và không thay đổi so với tháng trước sau khi giảm 0,2% vào tháng 7. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 4,0% so với cùng kỳ năm trước và không thay đổi so với tháng trước. Từ tháng 1 đến tháng 8, PPI trung bình giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá mua vào giảm 3,3%.

CPI Trung Quốc Giảm 0,4% So Với Cùng Kỳ Và Không Thay Đổi So Với Tháng Trước Vào Tháng 8 Năm 2025

Vào tháng 8 năm 2025, CPI của Trung Quốc giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực thành thị giảm 0,3%, trong khi khu vực nông thôn giảm 0,6%. Giá thực phẩm giảm 4,3%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,5%. Giá hàng tiêu dùng giảm 1,0%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,6%. Từ tháng 1 đến tháng 8, CPI trung bình giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 8, CPI không thay đổi so với tháng trước. Khu vực thành thị không có thay đổi, trong khi khu vực nông thôn tăng nhẹ 0,1%. Giá thực phẩm tăng 0,5%, trong khi giá phi thực phẩm giảm 0,1%. Giá hàng tiêu dùng tăng 0,1%, với giá dịch vụ ổn định.

image

I. Biến Động Giá Hàng Hóa Và Dịch Vụ So Với Cùng Kỳ

Trong tháng 8, giá thực phẩm, thuốc lá và rượu giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước, kéo CPI giảm khoảng 0,72 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi giảm 15,2%, đóng góp vào mức giảm CPI 0,37 điểm phần trăm; giá trứng giảm 12,4%, làm giảm CPI 0,08 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 8,0%, kéo CPI giảm 0,25 điểm phần trăm (với giá thịt lợn giảm 16,1%, ảnh hưởng đến CPI 0,24 điểm phần trăm); giá trái cây tươi giảm 3,7%, làm giảm CPI 0,08 điểm phần trăm; giá ngũ cốc giảm 0,8%, giảm CPI 0,01 điểm phần trăm; trong khi giá thủy sản tăng 2,2%, đẩy CPI tăng 0,04 điểm phần trăm.

Trong số bảy nhóm hàng hóa chính còn lại, sáu nhóm ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước và một nhóm giảm. Cụ thể, giá hàng hóa và dịch vụ khác, quần áo, đồ gia dụng và dịch vụ gia đình tăng lần lượt 8,6%, 1,8% và 1,8%; giáo dục, văn hóa và giải trí, chăm sóc sức khỏe, nhà ở tăng lần lượt 1,0%, 0,9% và 0,1%. Giá giao thông và truyền thông giảm 2,4%.

image

II. Biến động giá hàng tháng của các loại hàng hóa và dịch vụ

Tháng 8, giá thực phẩm, thuốc lá và rượu bia tăng 0,3% so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng CPI. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi tăng 8,5%, đóng góp khoảng 0,16 điểm phần trăm; giá trứng tăng 1,5%, đóng góp khoảng 0,01 điểm phần trăm; giá trái cây tươi giảm 2,8%, kéo CPI giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm; giá thủy sản giảm 0,9%, làm giảm CPI khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá thịt lợn giảm 0,5%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm.

Trong số bảy nhóm hàng hóa chính còn lại, một nhóm ghi nhận mức tăng giá hàng tháng, hai nhóm giữ nguyên và bốn nhóm giảm. Cụ thể, giá chăm sóc sức khỏe tăng 0,3%; giá nhà ở và hàng hóa dịch vụ khác không thay đổi; giá giao thông và truyền thông giảm 0,3%, trong khi giá quần áo, đồ gia dụng và dịch vụ gia đình, giáo dục, văn hóa và giải trí đều giảm 0,1%.

image

image

Mức giảm giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tháng 8 năm 2025 thu hẹp so với cùng kỳ và chuyển sang ổn định so với tháng trước

Tháng 8 năm 2025, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp trên toàn quốc giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước, trong khi giá hàng tháng chuyển từ mức giảm 0,2% sang ổn định. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp giảm 4,0% so với cùng kỳ và giữ nguyên so với tháng trước. Tính bình quân từ tháng 1 đến tháng 8, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá mua vào giảm 3,3%.

image

image

I. Biến động giá nhà sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ

Tháng 8, trong giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp, giá nguyên liệu sản xuất giảm 3,2%, kéo mức giá xuất xưởng tổng thể giảm khoảng 2,4 điểm phần trăm. Trong đó, giá ngành khai khoáng giảm 11,5%, giá nguyên liệu thô giảm 4,1%, giá ngành chế biến giảm 2,2%. Giá hàng tiêu dùng giảm 1,7%, kéo mức giá xuất xưởng tổng thể giảm khoảng 0,45 điểm phần trăm. Cụ thể, giá thực phẩm giảm 1,7%, giá quần áo không đổi, giá hàng tiêu dùng thông thường tăng 0,4%, giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 3,7%.

image

image

Trong giá mua nguyên liệu sản xuất công nghiệp, giá nhiên liệu và năng lượng giảm 9,7%, giá nguyên liệu hóa chất giảm 6,2%, giá kim loại đen và phụ phẩm nông nghiệp cùng giảm 5,6%, giá vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 4,7%, giá nguyên liệu dệt may giảm 2,0%, trong khi giá kim loại màu và dây cáp tăng 4,7%.

II. Biến động theo tháng của giá sản xuất công nghiệp

Tháng 8, giá xuất xưởng tư liệu sản xuất tăng 0,1%, đẩy mức giá xuất xưởng tổng thể tăng khoảng 0,08 điểm phần trăm. Cụ thể, giá ngành khai thác mỏ tăng 1,3%, giá nguyên liệu thô tăng 0,2%, giá ngành chế biến không đổi. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,1%, kéo mức giá xuất xưởng tổng thể giảm khoảng 0,03 điểm phần trăm. Trong nhóm này, giá thực phẩm tăng 0,1%, giá quần áo không đổi, hàng tiêu dùng thông thường giảm 0,2%, hàng tiêu dùng lâu bền giảm 0,3%.

Trong giá mua nguyên liệu sản xuất công nghiệp, vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 1,4%, nguyên liệu hóa chất và phụ phẩm nông nghiệp cùng giảm 0,4%. Giá nhiên liệu và năng lượng tăng 0,7%, kim loại đen tăng 0,6%, kim loại màu/dây cáp và nguyên liệu dệt may cùng tăng nhẹ 0,1%.

image

Lạm phát cơ bản tiếp tục phục hồi tháng 8/2025 khi mức giảm PPI theo năm thu hẹp

—Giải thích của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Đông Lệ Quyên về số liệu CPI và PPI tháng 8/2025

Tháng 8, thị trường tiêu dùng vận hành ổn định tổng thể. CPI không đổi so với tháng trước nhưng giảm 0,4% so với cùng kỳ, trong khi lạm phát cơ bản (loại trừ thực phẩm và năng lượng) tăng 0,9% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng thứ tư liên tiếp tăng trưởng mở rộng. Với việc tiếp tục tối ưu hóa cạnh tranh thị trường nội địa và cải thiện quan hệ cung-cầu ở một số ngành, PPI chuyển từ mức giảm 0,2% so với tháng trước sang mức ổn định. Mức giảm so với cùng kỳ năm ngoái thu hẹp 0,7 điểm phần trăm xuống còn 2,9%.

I. CPI lõi duy trì phục hồi

Sự chuyển đổi của CPI từ ổn định sang âm chủ yếu do hiệu ứng cơ số cao từ cùng kỳ năm ngoái kết hợp với mức tăng giá thực phẩm thấp hơn mùa vụ trong tháng. Hiệu ứng kéo dài từ biến động giá năm ngoái đóng góp khoảng -0,9 điểm phần trăm vào CPI so với cùng kỳ, với áp lực giảm mở rộng 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Yếu tố tăng giá mới cho thấy CPI tháng này ở mức cân bằng, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với chuẩn mùa vụ. Hai yếu tố này cùng đẩy CPI so với cùng kỳ đi xuống. Theo nhóm hàng, giá thực phẩm đặc biệt yếu. Giá thực phẩm tăng 0,5% so với tháng trước nhưng thấp hơn khoảng 1,1 điểm phần trăm so với mô hình mùa vụ, với giá thịt lợn, trứng và trái cây tươi đều thấp hơn xu hướng mùa vụ. Giá thực phẩm so với cùng kỳ giảm 4,3%, đẩy nhanh mức giảm 2,7 điểm phần trăm so với tháng trước, tạo áp lực giảm thêm 0,51 điểm phần trăm lên CPI so với cùng kỳ so với tháng trước—vượt quá mức giảm chung của CPI so với cùng kỳ. Trong đó, giá thịt lợn, rau tươi và trứng giảm lần lượt 16,1%, 15,2% và 14,2% so với cùng kỳ, với mức giảm mở rộng 6,6, 7,6 và 1,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá trái cây tươi chuyển từ mức tăng 2,8% so với cùng kỳ tháng trước sang giảm 3,7%. Bốn mặt hàng này cùng kéo CPI xuống khoảng 0,47 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá phi thực phẩm tăng 0,5%, đánh dấu tháng thứ ba liên tiếp mở rộng tăng trưởng, đóng góp 0,43 điểm phần trăm tăng vào CPI so với cùng kỳ.

Khi các chính sách mở rộng nhu cầu nội địa và thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục phát huy hiệu quả, CPI lõi so với cùng kỳ tăng trưởng mở rộng trong tháng thứ tư liên tiếp. Trong tháng này, CPI lõi loại trừ giá thực phẩm và năng lượng tăng 0,9% so với cùng kỳ, với tốc độ tăng trưởng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong đó, giá hàng tiêu dùng công nghiệp loại trừ năng lượng tăng 1,5% so với cùng kỳ, với tốc độ tăng trưởng mở rộng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong nhóm hàng tiêu dùng công nghiệp, giá vàng và trang sức bạch kim tăng mạnh lần lượt 36,7% và 29,8% so với cùng kỳ, cùng đóng góp 0,22 điểm phần trăm tăng vào CPI so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng theo năm (YoY) của giá đồ gia dụng và hàng lâu bền giải trí lần lượt mở rộng lên 4,6% và 2,4%, cùng đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào mức tăng CPI YoY. Mức giảm YoY của giá xe chạy xăng tiếp tục thu hẹp xuống 2,3%. Tốc độ tăng giá dịch vụ YoY đã dần mở rộng kể từ tháng 3, tăng 0,6% trong tháng này, với tốc độ tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp 0,23 điểm phần trăm vào mức tăng CPI YoY. Trong đó, giá dịch vụ gia đình và cắt tóc lần lượt tăng 2,3% và 1,0% YoY, với tốc độ tăng tương đối ổn định. Giá dịch vụ y tế và giáo dục lần lượt tăng 1,6% và 1,2% YoY, trong khi giá thuê xe và du lịch lần lượt tăng 0,8% và 0,7% YoY, với tất cả các tốc độ tăng đều mở rộng.

II. Mức giảm PPI YoY thu hẹp

Thay đổi PPI theo tháng (MoM) đã chấm dứt chuỗi giảm liên tiếp 8 tháng, chuyển từ mức giảm 0,2% tháng trước sang ổn định trong tháng này. Đặc điểm chính của biến động PPI MoM tháng này là: Thứ nhất, cải thiện quan hệ cung-cầu dẫn đến giá một số ngành năng lượng và nguyên liệu thô phục hồi. Giá chế biến than chuyển từ mức giảm 4,7% tháng trước sang tăng 9,7%, giá khai thác và rửa than chuyển từ giảm 1,5% sang tăng 2,8%, giá luyện cán kim loại đen chuyển từ giảm 0,3% sang tăng 1,9%, giá sản xuất kính chuyển từ giảm 1,5% sang tăng 0,1%, và giá sản xuất và cung cấp điện nhiệt chuyển từ giảm 0,9% sang tăng 0,1%. Thứ hai, yếu tố nhập khẩu khiến giá một số ngành dầu khí và kim loại màu trong nước điều chỉnh giảm. Giá kim loại màu quốc tế biến động ở mức cao, trong khi giá luyện cán kim loại màu trong nước tăng 0,2%, với tốc độ tăng giảm 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong đó, giá luyện vàng và nhôm đều tăng 0,2%, trong khi giá luyện đồng giảm 1,1%. Giá dầu thế giới giảm khiến giá khai thác dầu thô và sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế trong nước lần lượt giảm 1,4% và 0,6%.

PPI giảm 2,9% YoY, với mức giảm thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước, đánh dấu lần thu hẹp đầu tiên kể từ tháng 3 năm nay. Ngoài hiệu ứng cơ sở thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái, Trung Quốc đã đẩy mạnh triển khai các chính sách vĩ mô chủ động và hiệu quả hơn, dẫn đến những thay đổi tích cực về giá ở một số ngành. Thứ nhất, việc liên tục tối ưu hóa trật tự cạnh tranh thị trường nội địa đã góp phần thu hẹp mức giảm giá theo năm ở các ngành liên quan. Xây dựng thị trường quốc gia thống nhất được đẩy mạnh, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp được giải quyết và quản lý năng lực trong các ngành then chốt được thực hiện có trật tự, dẫn đến mức giảm giá theo năm thu hẹp. Mức giảm giá theo năm trong chế biến than, luyện cán kim loại màu, khai thác và rửa than, sản xuất thiết bị và linh kiện điện mặt trời, cùng sản xuất xe điện mới thu hẹp lần lượt 10,3; 6,0; 3,2; 2,8 và 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước, giảm áp lực giảm giá PPI theo năm khoảng 0,5 điểm phần trăm so với tháng trước, đây là lý do chính khiến mức giảm PPI theo năm thu hẹp. Thứ hai, tăng trưởng ổn định của động lực phát triển mới thúc đẩy phục hồi giá theo năm ở các ngành liên quan. Các ngành công nghiệp mới nổi phát triển mạnh, đổi mới công nghệ và công nghiệp được đào sâu, phát triển xanh nâng cao chất lượng và hiệu quả, dẫn đến tăng giá theo năm ở một số lĩnh vực. Giá đóng gói và kiểm tra mạch tích hợp tăng 1,1%, sản xuất tàu và thiết bị liên quan tăng 0,9%, sản xuất thiết bị hệ thống viễn thông tăng 0,3%, và giá thiết bị xử lý chất thải rắn tăng 0,3%. Giá sản xuất vật liệu chuyên dụng điện tử và sản xuất máy bay không người lái thông minh ổn định sau khi giảm lần lượt 1,6% và 0,5% so với tháng trước, trong khi mức giảm tận dụng tổng hợp tài nguyên thải loại thu hẹp 5,4 điểm phần trăm. Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng nâng cao tăng đã thúc đẩy tăng giá theo năm ở một số ngành. Giá sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và hàng lễ nghi tăng 13,0%, sản xuất bóng thể thao tăng 4,7%, sản xuất nhạc cụ truyền thống Trung Quốc tăng 1,6%, sản xuất thực phẩm dinh dưỡng tăng 0,9%, sản xuất thiết bị và phụ kiện thể thao chuyên dụng tăng 0,4%, và giá sản xuất thực phẩm chức năng tăng 0,3%.

Đọc thêm:

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Cục Thống kê Quốc gia (NBS): CPI tháng 8 giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, CPI lõi tiếp tục phục hồi, mức giảm PPI so với cùng kỳ thu hẹp. - Shanghai Metals Market (SMM)