Theo số liệu của Cục Thống kê Quốc gia (NBS), vào tháng 6 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng quốc gia (CPI) tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị tăng 0,1%, trong khi khu vực nông thôn giảm 0,2%. Giá thực phẩm giảm 0,3%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,1%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,2%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,5%. Trong nửa đầu năm, CPI quốc gia giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Vào tháng 6, CPI quốc gia giảm 0,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực thành thị giảm 0,1%, trong khi khu vực nông thôn không thay đổi. Giá thực phẩm giảm 0,4%, trong khi giá phi thực phẩm không thay đổi. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,1%, trong khi giá dịch vụ không thay đổi. Đông Lệ Quyên, Trưởng phòng Thống kê Thành phố của NBS, đã giải thích dữ liệu CPI và Chỉ số Giá Sản xuất (PPI) của tháng 6 năm 2025, cho biết CPI tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu sự phục hồi sau bốn tháng liên tiếp giảm. Sự chuyển từ giảm sang tăng của CPI chủ yếu bị ảnh hưởng bởi sự phục hồi của giá hàng tiêu dùng công nghiệp. Sự giảm giá hàng tiêu dùng công nghiệp so với cùng kỳ năm trước đã thu hẹp từ 1,0% của tháng trước xuống còn 0,5%, giảm tác động giảm giá đối với CPI so với cùng kỳ năm trước khoảng 0,18 điểm phần trăm so với tháng trước. CPI cơ bản tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, đạt mức cao mới trong gần 14 tháng. Vào tháng 6, PPI giảm 0,4% so với tháng trước, với mức giảm không thay đổi so với tháng trước. Những lý do chính cho sự giảm giá PPI so với tháng trước là: thứ nhất, sự giảm giá theo mùa trong một số ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu thô trong nước; thứ hai, sự tăng giá điện xanh làm giảm giá năng lượng; thứ ba, áp lực giá trong một số ngành có tỷ lệ xuất khẩu cao.
Vào tháng 6 năm 2025, giá xuất xưởng của các nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước.
Vào tháng 6 năm 2025, giá xuất xưởng quốc gia của các nhà sản xuất công nghiệp giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước và 0,4% so với tháng trước. Giá mua của các nhà sản xuất công nghiệp giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước và 0,7% so với tháng trước. Trong nửa đầu năm, giá xuất xưởng của các nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước, và giá mua của các nhà sản xuất công nghiệp giảm 2,9%.


I. Thay đổi so với cùng kỳ năm trước của giá sản xuất
Vào tháng 6, trong số giá xuất xưởng của các nhà sản xuất công nghiệp, giá của các phương tiện sản xuất giảm 4,4%, góp phần làm giảm khoảng 3,26 điểm phần trăm trong mức giá xuất xưởng chung của các nhà sản xuất công nghiệp. Trong đó, giá của các ngành công nghiệp khai thác giảm 13,2%, giá của các ngành công nghiệp nguyên liệu giảm 5,5% và giá của các ngành công nghiệp chế biến giảm 3,2%. Giá của các phương tiện sinh hoạt giảm 1,4%, góp phần làm giảm khoảng 0,35 điểm phần trăm trong mức giá xuất xưởng chung của các nhà sản xuất công nghiệp. Trong đó, giá thực phẩm giảm 2,0%, giá quần áo tăng 0,1%, giá các nhu yếu phẩm hàng ngày tăng 0,8% và giá hàng tiêu dùng bền giảm 2,7%.


Trong số giá mua của các nhà sản xuất công nghiệp, giá nhiên liệu và điện giảm 10,4%, giá vật liệu kim loại màu giảm 8,0%, giá nguyên liệu hóa học giảm 6,2%, giá nông sản và phụ nông sản giảm 4,2%, giá vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 2,6% và giá nguyên liệu dệt may giảm 2,4%. Giá vật liệu kim loại không màu và dây điện tăng 2,4%.
II. Thay đổi so với tháng trước của giá sản xuất công nghiệp
Vào tháng 6, trong số giá xuất xưởng của các nhà sản xuất công nghiệp, giá của các phương tiện sản xuất giảm 0,6%, góp phần làm giảm khoảng 0,42 điểm phần trăm trong mức giá xuất xưởng chung của các nhà sản xuất công nghiệp. Cụ thể, giá của các ngành công nghiệp khai thác giảm 1,2%, giá của các ngành công nghiệp nguyên liệu giảm 0,7% và giá của các ngành công nghiệp chế biến giảm 0,5%. Giá của các phương tiện sinh hoạt giảm 0,1%, góp phần làm giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm trong mức giá xuất xưởng chung của các nhà sản xuất công nghiệp. Cụ thể, giá thực phẩm giảm 0,3%, giá quần áo không thay đổi, giá các nhu yếu phẩm hàng ngày tăng 0,1% và giá hàng tiêu dùng bền giảm 0,1%.
Trong số các giá mua của nhà sản xuất công nghiệp, giá nhiên liệu và điện giảm 2,0%, giá vật liệu xây dựng và phi kim loại giảm 1,5%, giá vật liệu kim loại đen giảm 1,1%, giá nguyên liệu hóa học giảm 0,7%, giá nông sản và sản phẩm phụ nông nghiệp giảm 0,5% và giá nguyên liệu dệt may giảm 0,1%; giá vật liệu kim loại màu và dây điện tăng 0,3%.

Vào tháng 6 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chuyển từ giảm so với cùng kỳ năm trước sang tăng, với chỉ số CPI cơ bản tiếp tục phục hồi
——Giải thích dữ liệu CPI và PPI tháng 6 năm 2025 của Đồng Lệ Quyên, Trưởng phòng Thống kê Đô thị, Cục Thống kê Quốc gia (NBS)
Trong tháng 6, các chính sách mở rộng nhu cầu trong nước và thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục có hiệu quả, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chuyển từ giảm so với cùng kỳ năm trước trong tháng trước sang tăng 0,1%; nó giảm 0,1% so với tháng trước, với mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, chỉ số CPI cơ bản tiếp tục phục hồi so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,7%. Chỉ số giá sản xuất (PPI) của nhà sản xuất công nghiệp giảm 0,4% so với tháng trước, với mức giảm vẫn giữ nguyên so với tháng trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước, với mức giảm mở rộng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước.
I. CPI chuyển từ giảm so với cùng kỳ năm trước sang tăng, với chỉ số CPI cơ bản tiếp tục phục hồi
CPI tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, chuyển từ giảm trong bốn tháng liên tiếp sang tăng. Sự chuyển đổi của CPI từ giảm sang tăng chủ yếu bị ảnh hưởng bởi sự phục hồi của giá hàng tiêu dùng công nghiệp. Sự giảm giá hàng tiêu dùng công nghiệp so với cùng kỳ năm trước thu hẹp từ 1,0% trong tháng trước xuống còn 0,5%, giảm tác động giảm xuống đối với CPI so với cùng kỳ năm trước khoảng 0,18 điểm phần trăm so với tháng trước. Cụ thể, những thay đổi trong giá dầu đã góp phần thu hẹp sự giảm giá của năng lượng 1,0 điểm phần trăm so với tháng trước, giảm tác động giảm xuống đối với CPI so với cùng kỳ năm trước khoảng 0,08 điểm phần trăm so với tháng trước. Bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong giá hàng hóa quốc tế, giá vàng và trang sức bằng bạch kim tăng lần lượt 39,2% và 15,9% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm tăng CPI so với cùng kỳ năm trước khoảng 0,21 điểm phần trăm. Tác động của các chính sách thúc đẩy tiêu dùng tiếp tục thể hiện, với giá các mặt hàng tiêu dùng bền vững trong lĩnh vực văn hóa, giải trí, dệt may gia dụng và thiết bị gia dụng tăng lần lượt là 2,0%, 2,0% và 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm giá xe hơi dần thu hẹp, với giá xe hơi compact chạy xăng và xe hơi compact năng lượng mới lần lượt giảm 3,4% và 2,5% so với cùng kỳ năm trước trong tháng này, đại diện cho mức giảm nhỏ nhất trong gần 28 tháng và 26 tháng. Mức giảm giá thực phẩm thu hẹp nhẹ. Giá thực phẩm giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, với mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong đó, giá thịt bò đã chấm dứt 28 tháng giảm liên tiếp và chuyển sang tăng 2,7%; giá thịt lợn giảm 8,5%, đánh dấu lần giảm đầu tiên sau nhiều tháng tăng liên tiếp. Giá dịch vụ tăng 0,5%, với mức tăng vẫn ổn định. CPI cơ bản tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, đạt mức cao mới trong gần 14 tháng.
CPI giảm 0,1% so với tháng trước, với mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Mức giảm giá thực phẩm nhỏ hơn so với mức theo mùa. Bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ cao hơn và lượng mưa nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước, giá thực phẩm giảm 0,4% so với tháng trước, với mức giảm nhỏ hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức theo mùa. Trong các mặt hàng thực phẩm, giá cá nước ngọt và rau tươi lần lượt tăng 4,3% và 0,7%, với cả hai mức tăng đều cao hơn so với mức theo mùa. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp chuyển từ giảm sang tăng. Bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá dầu quốc tế, giá xăng chuyển từ giảm 3,8% so với tháng trước sang tăng 0,4%, thúc đẩy giá năng lượng chuyển từ giảm 1,7% so với tháng trước sang tăng 0,1%. Loại trừ năng lượng, giá hàng tiêu dùng công nghiệp tăng 0,1% so với tháng trước. Trong đó, bị ảnh hưởng bởi giá vàng cao và sự gia tăng nhu cầu thay thế, giá trang sức bằng bạch kim tăng 12,6%, đánh dấu mức tăng cao nhất so với tháng trước trong gần 10 năm. Giá dịch vụ vẫn ổn định với một số mức tăng. Trong đó, do nhu cầu thuê nhà tăng trong mùa tốt nghiệp, giá thuê nhà tăng 0,1%.
II. Mức giảm PPI so với tháng trước vẫn giữ nguyên so với tháng trước, với giá trong một số ngành công nghiệp cho thấy dấu hiệu ổn định và phục hồi.
PPI giảm 0,4% so với tháng trước, với mức giảm vẫn giữ nguyên như tháng trước. Các nguyên nhân chính khiến PPI giảm so với tháng trước là: Thứ nhất, giá của một số ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu trong nước giảm theo mùa. Với sự gia tăng của thời tiết nóng và mưa trong mùa hè, tiến độ xây dựng của một số dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng đã bị ảnh hưởng. Cùng với nguồn cung thép, xi măng, v.v. tương đối dồi dào, giá của các ngành công nghiệp luyện kim và chế biến cán kim loại giảm 1,8%, và giá của các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 1,4%, cùng tác động khiến PPI giảm so với tháng trước khoảng 0,18 điểm phần trăm. Thứ hai, sự gia tăng của điện xanh đã khiến giá năng lượng giảm. Với sự đến của mùa hè, sản lượng điện mặt trời và điện gió ở tây bắc Trung Quốc và sản lượng điện thủy điện ở tây nam Trung Quốc đã tăng lên, làm giảm tổng chi phí sản xuất điện. Giá của các ngành công nghiệp sản xuất và cung cấp điện và nhiệt giảm 0,9%; đồng thời, hiệu ứng thay thế của điện xanh đối với điện nhiệt đã được tăng cường, làm giảm nhu cầu than nhiệt. Cùng với sản lượng than ổn định và lượng than dự trữ dồi dào tại các nhà máy điện và cảng, giá chế biến than giảm 5,5%, và giá của ngành công nghiệp khai thác và rửa than giảm 3,4%. Ba ngành công nghiệp trên cùng tác động khiến PPI giảm so với tháng trước khoảng 0,15 điểm phần trăm. Thứ ba, giá của một số ngành công nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu tương đối cao đang chịu áp lực. Tăng trưởng thương mại toàn cầu đã chậm lại, và sự không chắc chắn trong môi trường thương mại quốc tế đã ảnh hưởng đến kỳ vọng xuất khẩu của các doanh nghiệp. Tại Trung Quốc, một số ngành công nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu tương đối cao đang phải đối mặt với áp lực giảm giá gia tăng. Giá của các ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, máy tính, truyền thông và các thiết bị khác giảm 0,4%, giá của các ngành công nghiệp sản xuất máy móc và thiết bị điện giảm 0,2%, và giá của ngành công nghiệp dệt may giảm 0,2%.
Bị ảnh hưởng bởi sự giảm so với tháng trước và những thay đổi trong cơ sở so sánh, sự giảm so với cùng kỳ năm trước của PPI đã tăng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Tuy nhiên, với việc thực hiện các chính sách vĩ mô khác nhau, mối quan hệ cung cầu trong một số ngành công nghiệp đã được cải thiện, và giá đã có dấu hiệu ổn định và phục hồi. Thứ nhất, sự tiến bộ sâu rộng trong việc xây dựng một thị trường quốc gia thống nhất đã thúc đẩy việc thu hẹp mức giảm giá hàng năm trong một số ngành công nghiệp. Các nỗ lực để kiềm chế sự cạnh tranh giá thấp và vô trật tự của các doanh nghiệp đã được tăng cường, và việc loại bỏ dần năng lực sản xuất lạc hậu và nâng cao chất lượng sản phẩm đã từng bước tiến triển. Giá sản xuất xe ô tô hoàn chỉnh chạy bằng xăng và dầu diesel và xe năng lượng mới đã tăng lần lượt 0,5% và 0,3% so với tháng trước, với mức giảm hàng năm thu hẹp lần lượt 1,9 và 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá sản xuất thiết bị quang điện và linh kiện điện tử giảm 10,9% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức giảm thu hẹp 1,2 điểm phần trăm. Giá sản xuất pin lithium-ion giảm 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái, với mức giảm thu hẹp 0,2 điểm phần trăm. Thứ hai, sự mở rộng và tăng cường các chính sách nhằm thúc đẩy tiêu dùng đã thúc đẩy sự phục hồi hàng năm của giá một số hàng tiêu dùng. Tiềm năng của nhu cầu trong nước tiếp tục được giải phóng, và nhu cầu về cuộc sống chất lượng cao đã tăng lên. Trong số các hàng tiêu dùng, giá các mặt hàng thiết yếu hàng ngày và quần áo đã tăng lần lượt 0,8% và 0,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá các mặt hàng tiêu dùng bền giảm 2,7%, với mức giảm thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước. Từ góc độ ngành công nghiệp, giá sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và đồ dùng nghi lễ đã tăng 13,1% so với cùng kỳ năm ngoái, giá sản xuất tơ lụa và chế biến vải lụa đã tăng 1,2%, và giá sản xuất đồ thể thao đã tăng 0,7%. Giá sản xuất thiết bị làm lạnh gia đình, thiết bị làm đẹp và chăm sóc sức khỏe gia đình và sản xuất tivi đã thu hẹp mức giảm hàng năm lần lượt 0,8, 0,5 và 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Thứ ba, sự tích lũy động lực mới đã thúc đẩy sự tăng giá hàng năm trong một số ngành công nghiệp công nghệ cao. Trung Quốc đã đẩy nhanh việc nuôi dưỡng các lực lượng sản xuất chất lượng mới, với vai trò hàng đầu của sự đổi mới tiếp tục được củng cố. Động lực mới như sản xuất công nghiệp cao cấp, sản xuất thông minh và kinh tế số tiếp tục phát triển và mở rộng. Giá sản xuất dòng sản phẩm đóng gói và thử nghiệm mạch tích hợp đã tăng 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái, giá sản xuất thiết bị thông minh đeo được đã tăng 1,4%, giá sản xuất thiết bị truyền thông sóng vi ba đã tăng 1,3%, giá sản xuất xe và thiết bị hàng không vũ trụ đã tăng 1,1%, giá máy chủ đã tăng 0,9% và giá sản xuất động cơ và linh kiện vi mô và đặc biệt đã tăng 0,6%.