Hợp đồng tương lai: Qua đêm, đồng LME mở cửa ở mức 9.843,5 USD/tấn, giảm xuống 9.812 USD/tấn vào đầu phiên, sau đó dao động tăng trong ngày, đạt đỉnh 9.881 USD/tấn gần giờ đóng cửa trước khi đóng cửa ở mức 9.879 USD/tấn với mức giảm 0,01%. Khối lượng giao dịch đạt 18.000 lô và lượng hàng mở đạt 292.000 lô. Hợp đồng đồng SHFE 2508 giao dịch nhiều nhất mở cửa ở mức 79.630 NDT/tấn, giảm xuống 79.560 NDT/tấn ban đầu, sau đó tăng đều đặn lên đỉnh 79.910 NDT/tấn trước khi hồi phục nhẹ để đóng cửa ở mức 79.780 NDT/tấn với mức tăng 0,01%. Khối lượng giao dịch đạt 32.000 lô và lượng hàng mở đạt 211.000 lô.
[Tóm tắt Hội nghị Buổi sáng Đồng SMM] Tin tức: (1) Thông báo ngày 30 tháng 6 của Tập đoàn Khai thác Mỏ Tử Kim: Tập đoàn Tử Kim Quốc tế (thực thể được đề xuất tách ra niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông), một công ty con thuộc sở hữu toàn phần của công ty, và công ty con Jinha (Singapore) Mining Pte. Ltd. có trụ sở tại Singapore, đã ký một thỏa thuận với Cantech S.à.r.l. vào ngày 29 tháng 6 năm 2025 (giờ Bắc Kinh). Jinha Mining đề xuất mua lại 100% cổ phần của RG Gold LLP và RG Processing LLP do Cantech nắm giữ, từ đó sở hữu 100% cổ phần của dự án vàng Raygorodok tại Kazakhstan.
Thị trường giao ngay: (1) Thượng Hải: Ngày 30 tháng 6, phí chênh lệch kỳ hạn giao ngay của đồng cathode số 1 SMM so với hợp đồng kỳ hạn tháng 7 được báo ở mức 100-160 NDT/tấn, trung bình 130 NDT/tấn, tăng 20 NDT/tấn so với phiên trước. Giá đồng cathode số 1 SMM ở mức 79.860-80.120 NDT/tấn. Hợp đồng tương lai đồng SHFE ban đầu dao động mạnh, tạm thời tăng vọt lên 80.080 NDT/tấn trước khi giảm xuống 79.690 NDT/tấn, sau đó hồi phục do đóng vị thế bán khống để quay lại gần 80.000 NDT/tấn vào giờ đóng cửa buổi sáng. Chênh lệch giá giảm (backwardation) giữa các hợp đồng kỳ hạn gần mở rộng, dao động trong khoảng 150-210 NDT/tấn trong phiên sáng. Hoạt động giao dịch vẫn bế tắc khi các thương nhân tích cực tìm kiếm hàng hóa giá thấp trong những ngày giao dịch cuối tháng. Phí chênh lệch giao ngay dự kiến vẫn ở mức cao vào ngày 1 tháng 7 nhưng có thể chịu áp lực từ việc chênh lệch mở rộng.
(2) Quảng Đông: Ngày 30 tháng 6, phí chênh lệch kỳ hạn giao ngay của đồng cathode số 1 Quảng Đông so với hợp đồng kỳ hạn tháng 7 đứng ở mức 30-100 NDT/tấn, trung bình 65 NDT/tấn, giảm 30 NDT/tấn so với phiên trước. Đồng khai thác điện phân (SX-EW) được báo giá ở mức chiết khấu 30-10 NDT/tấn, trung bình chiết khấu 20 NDT/tấn, giảm 10 NDT/tấn so với phiên trước. Đồng cathode số 1 Quảng Đông trung bình 79.940 NDT/tấn, giảm 130 NDT/tấn so với phiên trước, trong khi đồng khai thác điện phân trung bình 79.850 NDT/tấn, giảm 110 NDT/tấn. Hoạt động giao dịch vẫn trung bình trong bối cảnh thanh toán cuối năm, với sự tham gia yếu hơn so với thứ Sáu tuần trước.
(3) Đồng nhập khẩu: Ngày 30 tháng 6, giá chứng chỉ lưu kho dao động 20-40 USD/tấn với QP tháng 7, trung bình giảm 7 USD/tấn so với ngày giao dịch trước; giá B/L đứng ở mức 30-70 USD/tấn với QP tháng 7, trung bình giảm 8 USD/tấn so với ngày hôm trước. Đồng EQ (CIF B/L) được báo giá ở mức -5 USD/tấn đến 7 USD/tấn với QP tháng 7, trung bình giảm 4 USD/tấn so với phiên trước. Báo giá tham chiếu hàng hóa đến vào giữa đến đầu tháng 7. Nhìn chung, các giao dịch B/L tái xuất đến tháng 7 gần như hoàn tất, với tập trung thị trường quay trở lại logic xuất khẩu. Giá chứng chỉ lưu kho phí chênh lệch Yangshan tiếp tục có xu hướng giảm.
(4) Đồng tái chế: Vào ngày 30 tháng 6, giá nguyên liệu thô đồng tái chế giảm 100 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước. Giá đồng sáng không vỏ ở Quảng Đông đạt 73.200-73.400 nhân dân tệ/tấn, giảm 100 nhân dân tệ/tấn so với ngày hôm trước. Khoảng cách giá giữa đồng tinh luyện và phế liệu đồng là 2.131 nhân dân tệ/tấn, mở rộng 166 nhân dân tệ/tấn so với tháng trước, trong khi khoảng cách giá giữa thanh đồng tinh luyện và thanh đồng tái chế đạt 1.495 nhân dân tệ/tấn. Các cuộc khảo sát của SMM cho thấy sự mở rộng thêm của các khoảng cách này, mặc dù doanh nghiệp sản xuất thanh đồng tái chế tích cực mua nguyên liệu khi nhà cung cấp có ý định bán cao hơn, giữ cho giao dịch nguyên liệu thô đồng tái chế trong ngày sôi động.
(5) Hàng tồn kho: Vào ngày 30 tháng 6, hàng tồn kho đồng LME giảm 650 tấn xuống còn 90.625 tấn; hàng tồn kho chứng thư SHFE tăng 505 tấn lên 25.851 tấn.
Giá: Yếu tố vĩ mô - Một số quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã phát tín hiệu về kỳ vọng cắt giảm lãi suất một lần nữa vào năm 2024, cùng với dự đoán thị trường rằng Trump có thể thay thế Powell bằng một ứng cử viên theo đường lối nới lỏng. Những yếu tố này đã thúc đẩy kỳ vọng cắt giảm lãi suất của Fed, khiến chỉ số đô la Mỹ giảm liên tiếp sáu tháng - mức giảm mạnh nhất kể từ đầu những năm 1970 - tạo điều kiện hỗ trợ tăng giá đồng. Cơ bản - Cung: Khi quý kết thúc, hầu hết các doanh nghiệp ngừng giao dịch tiền mặt. Một số nhà cung cấp không chịu nhượng bộ về giá, làm giảm tính thanh khoản bên bán và siết chặt nguồn cung hàng hóa tiền mặt. Tính đến thứ Hai, ngày 30 tháng 6, hàng tồn kho đồng chính lưu hành toàn quốc theo SMM giảm 4.000 tấn so với tuần trước xuống còn 126.100 tấn, chỉ có hàng tồn kho tại Thượng Hải giảm. Tổng cộng, hàng tồn kho thấp hơn 273.000 tấn so với cùng kỳ năm trước, khi hàng tồn kho tại Thượng Hải, Quảng Đông và Giang Tô đều thấp hơn mức năm 2024. Triển vọng giá: Với khả năng tăng thuế vào ngày 9 tháng 7 (đang chờ quyết định của Trump) và chỉ số đô la Mỹ gần mức thấp nhiều thập kỷ trong bối cảnh bất ổn về chính sách thương mại, giá đồng được dự kiến sẽ duy trì ở mức cao trong ngắn hạn.
[Thông tin được cung cấp chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành lời khuyên nghiên cứu đầu tư trực tiếp. Khách hàng nên thận trọng, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào phân tích này và đưa ra phán đoán độc lập. SMM không chịu trách nhiệm đối với quyết định giao dịch của khách hàng.]



