Giá cung cấp quặng của Philippines tăng, lỗ nặng hơn của các công ty trong nước
Tuần này, giá FOB quặng niken Philippines tăng nhẹ, trong khi giá giao dịch trong nước vẫn ổn định. Giá CIF quặng niken laterit Philippines có hàm lượng Ni 1,3% đến Trung Quốc là 46 - 47 USD/WMT và giá FOB quặng Ni 1,3% là 37 - 38 USD/WMT. Giá CIF quặng Ni 1,5% là 59 - 61 USD/WMT và giá FOB quặng Ni 1,5% là 52 - 53 USD/WMT. Phía cung và cầu: Phía cung, mặc dù các điểm tải quặng niken chính ở Philippines đã có mưa, thời tiết mưa kéo dài trong tuần đã ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ tải quặng tại các mỏ, với sự chậm trễ phổ biến hơn so với dự kiến. Phía cầu, giá NPI hạ lưu giảm trở lại và các nhà máy luyện NPI trong nước vẫn bị lỗ nặng, làm giảm tâm lý mua nguyên liệu. Hỗ trợ phía cầu đối với giá quặng niken tiếp tục suy yếu. Đối với xuất khẩu sang Indonesia, nhu cầu quặng niken Philippines của Indonesia tăng lên và giá quặng Indonesia liên tục ở mức cao đã càng làm tăng sự miễn cưỡng của các mỏ Philippines trong việc giảm giá. Nhìn về phía trước, cuộc đấu giá hiện tại giữa thượng nguồn và hạ nguồn là rõ ràng, cộng với sự gián đoạn giá từ Indonesia. Trong ngắn hạn, giá quặng niken Philippines có thể vẫn ở mức cao, trong khi lỗ nặng hơn của các công ty trong nước tiếp tục gia tăng, có khả năng buộc họ phải mua với giá cao hoặc cắt giảm sản lượng.
Giá HPM tiếp tục giảm, giá Indonesia dao động trong tuần nhưng phí bảo hiểm vẫn ở mức cao
Giá quặng trong nước của Indonesia đã thay đổi trong tuần này. Đối với phí bảo hiểm, phí bảo hiểm chính thống cho quặng niken laterit trong nước của Indonesia vẫn ở mức 26 - 28 USD/WMT. Đối với giá chuẩn, giá HMA cho nửa cuối tháng 6 ổn định với mức giảm nhẹ ở mức 15.221 USD/MT, giảm 1,19% so với tháng trước. Nhìn chung, giá quặng luyện hỏa giảm trong tuần này. Giá giao hàng tại nhà máy của SMM đối với quặng niken laterit trong nước của Indonesia có hàm lượng Ni 1,6% là 53,9 - 56,9 USD/WMT, tăng 0,4 USD/WMT so với tuần trước. Đối với quặng limonit, giá giao hàng tại nhà máy của SMM đối với quặng niken laterit trong nước của Indonesia có hàm lượng Ni 1,3% vẫn ổn định ở mức 26 - 28 USD/WMT, không thay đổi so với tuần trước.
Phía quặng luyện hỏa: Phía cung, mùa mưa đang diễn ra ở Sulawesi và Halmahera vẫn là một rào cản chính đối với các hoạt động khai thác và vận chuyển. Ngoài ra, mặc dù hạn ngạch bổ sung RKAB của Indonesia bắt đầu được phê duyệt trong nửa cuối năm, nhưng vẫn chưa có sự gia tăng hạn ngạch đáng kể nào. Do đó, tiến độ phê duyệt chậm đã làm trầm trọng thêm tình trạng cung cấp quặng luyện hỏa khan hiếm. Phía cầu, giá NPI Indonesia của SMM giảm trở lại trong tuần này và các nhà máy luyện NPI Indonesia vẫn trong tình trạng lỗ. Hơn nữa, tâm lý mua hàng của thị trường thép không gỉ suy yếu khi một số nhà máy luyện cắt giảm sản lượng. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu hụt cung cấp quặng như đã đề cập ở trên, các nhà máy luyện Indonesia, mặc dù hoạt động với lỗ, đã phải chấp nhận thụ động mức giá cao hiện tại để duy trì cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Về phía cung cấp quặng limonit, mặc dù mùa mưa đang diễn ra ở Indonesia, nhưng không có sự khan hiếm đáng kể nào đối với cung cấp quặng limonit gần đây. Phía cầu, hầu hết các dự án HPAL trong Khu công nghiệp MOROWALI đã nối lại sản xuất, dẫn đến tăng nhu cầu thị trường đối với quặng limonit. Ngoài ra, với việc dự kiến đưa vào vận hành các dự án luyện HPAL lớn hơn trong nửa cuối năm, có thể sẽ có sự gia tăng đáng kể nhu cầu đối với quặng limonit trong tương lai. Nhìn về phía trước, giá quặng limonit ở Indonesia có thể giữ vững.
![[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] Quy định nấu chảy và rót của EU sẽ định hình lại khả năng truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng thép không gỉ](https://imgqn.smm.cn/usercenter/PuSOO20251217171732.jpeg)

