1.7Báo cáo buổi sáng về Nickel
Nickel tinh luyện:
Phí bảo hiểm/Chiết khấu giao ngay: Hôm nay, phí bảo hiểm giao ngay chính của nickel Jinchuan No. 1 được báo giá trong khoảng 3,500-3,600 nhân dân tệ/tấn, với mức trung bình là 3,550 nhân dân tệ/tấn, tăng 350 nhân dân tệ. Phí bảo hiểm/chiết khấu của nickel Nga được báo giá trong khoảng -100 đến 100 nhân dân tệ/tấn, với mức trung bình là 0 nhân dân tệ/tấn, không thay đổi so với ngày giao dịch trước.
Hợp đồng tương lai: Vào buổi sáng, giá nickel giảm 0,21%, giảm 260 nhân dân tệ xuống còn 122,660 nhân dân tệ.
Nhìn chung, phí bảo hiểm trung bình tăng nhẹ. Về phía cầu, bước vào tháng 1, khi một số doanh nghiệp hạ nguồn đã hoàn thành việc dự trữ vào giữa đến cuối tháng 12, thị trường gần đây khá ảm đạm. Về phía cung, các doanh nghiệp hàng đầu không có kế hoạch cắt giảm sản xuất trong tháng 1, và nguồn cung tổng thể vẫn đủ. Với sự cân bằng cung-cầu tương đối lỏng lẻo, giá nickel dự kiến sẽ dao động giảm trong ngắn hạn.
Chênh lệch giá Nickel Sulphate: Hôm nay, giá nickel briquette là 122,400-122,800 nhân dân tệ/tấn, tăng 475 nhân dân tệ/tấn so với giá giao ngay ngày giao dịch trước. Nickel sulphate vẫn ở mức chiết khấu so với nickel tinh luyện.
Nickel Sulphate:
Vàongày 6 tháng 1, giá chỉ số nickel sulphate cấp pin của SMM là 26,382 nhân dân tệ/tấn, với phạm vi báo giá từ 26,000-26,920 nhân dân tệ/tấn, và giá trung bình không thay đổi so với tuần trước.
Về chi phí, hệ số giao dịch của nickel matte cấp cao và MHP gần đây vẫn ổn định. Giá nickel LME dao động nhẹ hôm nay ở mức 15,090 USD/tấn (Ni chứa), với hỗ trợ chi phí giao ngay thu hẹp nhẹ nhưng chưa được phản ánh trong giao dịch hoặc yêu cầu nickel sulphate. Về phía cầu, các nhà máy tiền chất hầu hết đã hoàn thành việc dự trữ muối nickel cho tháng 1, và hoạt động yêu cầu thị trường vẫn yếu. Về phía cung, các nhà máy muối nickel tiếp tục giữ vững báo giá, với hệ số giao dịch gần đây vẫn ổn định. Nhìn chung, trong bối cảnh nhu cầu yếu từ cả người mua và người bán, giá nickel sulphate dự kiến sẽ duy trì ổn định.
Nickel Pig Iron:
Vàongày 6 tháng 1, giá trung bình NPI cấp cao 8-12% của SMM là 935 nhân dân tệ/tấn (giá xuất xưởng, bao gồm thuế), không thay đổi so với ngày làm việc trước. Về phía cung, trong nước, giá NPI cấp cao dao động giảm, và với các nhà máy luyện truyền thống đối mặt với tổn thất mở rộng, sản xuất dự kiến sẽ suy yếu. Tại Indonesia, các nhà máy luyện NPI hiện tại có lượng tồn kho nguyên liệu tương đối đủ, và một số nhà máy duy trì lợi nhuận một phần. Nhu cầu yếu đối với nickel matte cấp cao vẫn tiếp diễn, và hiện tượng chuyển đổi từ nickel matte cấp cao sang sản xuất NPI cấp cao vẫn tồn tại, với sản lượng tại Indonesia duy trì tăng trưởng như dự kiến. Về phía cầu, các nhà máy thép không gỉ đã bước vào giai đoạn bảo trì theo mùa, với sản xuất suy yếu. Nhu cầu NPI từ các nhà máy thép đã giảm so với tháng trước, và các doanh nghiệp hàng đầu đã ký một số lượng lớn hợp đồng dài hạn cho nguyên liệu thô, dẫn đến nhu cầu đơn hàng giao ngay yếu hơn. Tuy nhiên, hỗ trợ chi phí hiện tại cho NPI vẫn vững chắc, và giá NPI cấp cao dự kiến sẽ duy trì ổn định với xu hướng yếu.
Thép không gỉ:
Vàongày 6 tháng 1, giá thép không gỉ giao ngay tạm thời ngừng xu hướng giảm, duy trì ổn định ở mức thấp. Về phía cung, các nhà máy thép tiếp tục giao hàng, trong khi nhu cầu hạ nguồn vẫn yếu, tạo ra sự mất cân bằng giữa cung và cầu. Tâm lý bi quan trên thị trường vẫn tồn tại, và áp lực bán cao. Vào buổi sáng, giá thép cán nguội 304 tại Vô Tích được báo giá ở mức 12,850-13,000 nhân dân tệ/tấn, thép cán nóng 304 ở mức 12,300-12,500 nhân dân tệ/tấn, thép cán nguội 316L ở mức 23,600-23,800 nhân dân tệ/tấn, thép cán nguội 201J1 ở mức 7,400-7,700 nhân dân tệ/tấn, và thép cán nguội 430 ở mức 7,150-7,450 nhân dân tệ/tấn. Lúc 10:30 sáng, giá hợp đồng SHFE SS2502 là 12,760 nhân dân tệ/tấn, với phí bảo hiểm thép không gỉ tại Vô Tích ở mức 260-410 nhân dân tệ/tấn (mép cắt giao ngay = mép nhà máy + 170 nhân dân tệ/tấn).



