Refined nickel production slips 2.56% in Jun

Đã xuất bản: Jul 05, 2019 18:15 (GMT+8)
NPI output rebounds 3.44% from May to 49,500 mt in Ni content in Jun

SHANGHAI, Jul 5 (SMM) – Production of refined nickel in China lost 2.56% from May to stand at 12,600 mt in June, according to SMM data. Output stood 5.82% higher than June 2018.

An SMM survey found that annual maintenance at some smelters, likely to last for two months from July, will affect production of refined nickel by 900-1,000 mt/month. 

However, poorer consumption of nickel sulphate is likely to prompt a smelter to restart production of refined nickel, by using 1,000 mt in Ni content of nickel sulphate. Output is likely to be generated in the first half of July, and will cap the decline in refined nickel production. SMM expects output in July to stand 1.83% lower from June, at 12,300 mt. 

NPI output rebounds 3.44% from May to 49,500 mt in Ni content in June, up 51.93% from June 2018.

On a month-on-month basis, output of high-grade NPI rose 2.87% to 42,200 mt in Ni content, driven by smelters resumption from May maintenance, higher operating rates at some mills, and release of new capacity. Environmental curbs in Shandong province offset ramp-up production at a local large plant, keeping output of the area flat in June. 

For low-grade materials, output grew 6.91% to 7,300 mt in Ni content last month, bolstered by the recovery from maintenance across steel mills in the north and the reopening of mills in the east, which outdid the impact from maintenance in the south. 

SMM expects China’s NPI output to expand 5.37% month on month to 52,100 mt in Ni content in July.

Fewer maintenance works and a reprieve from environmental pressure are expected to boost output of high-grade materials by 5.93% to 44,700 mt in Ni content in July, while the recovery from maintenance across steelmakers in the south will grow output of low-grade materials by 2.11% to 7,400 mt in Ni content. 

In June, China produced 10,263 mt in Ni content of nickel sulphate, which translated to 46,700 mt in physical content, down 10.29% on the month but up 58.14% on the year. 

Subsidy cuts for new energy vehicles (NEVs) dragged on downstream consumption and demand for nickel sulphate, a raw material for batteries. Poor orders for battery-grade nickel sulphate drove producers to lower output in June, with further cuts expected in July. 

Integrated producers of nickel sulphate, precursor also slashed their production of nickel sulphate solution, due to losses by using nickel briquette as feedstock. They favoured procured nickel sulphate. Fewer orders also depressed production on the integrated lines of nickel sulphate and precursor. 

Stable demand for electroplating-grade nickel sulphate kept production of the materials unchanged in June. 

For July, domestic output of nickel sulphate is expected to extend its declines, by 16.93% on the month to stand at 38,800 mt in physical content. This translates to 8,500 mt on Ni content basis, falling below 10,000 mt for the first time since March. 

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
【Flash | Phụ phí ống chứa molypden tháng 10 của Tubacex biến động trái chiều】
12 giờ trước
【Flash | Phụ phí ống chứa molypden tháng 10 của Tubacex biến động trái chiều】
Đọc thêm
【Flash | Phụ phí ống chứa molypden tháng 10 của Tubacex biến động trái chiều】
【Flash | Phụ phí ống chứa molypden tháng 10 của Tubacex biến động trái chiều】
Tubacex đã công bố phụ phí hợp kim ống tháng 10. Tính theo euro, thép 316/316L cán nóng/nguội giảm từ €5,07/€5,59 mỗi kg (€5.070/€5.590 mỗi tấn) xuống €5,05/€5,56 mỗi kg (€5.050/€5.560 mỗi tấn). Các loại vật liệu có hàm lượng Mo cao, với Mo trên 2,5%, giảm từ €5,26/€5,79 xuống €5,23/€5,76 mỗi kg. Phụ phí cho 2205 và 2507 không đổi, trong khi 254 SMO tăng từ €9,64/€10,62 lên €9,67/€10,65 mỗi kg. Phân tích của SMM: hầu hết các loại ống chứa Mo đều đi ngang hoặc giảm nhẹ, trong khi 254 SMO tăng, cho thấy sự truyền tải chi phí có sự khác biệt giữa các loại thép.
12 giờ trước
[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] Giá phế liệu thép không gỉ Ấn Độ phân hóa khi 304 giảm theo niken và 316 khan hiếm giữ vững
12 giờ trước
[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] Giá phế liệu thép không gỉ Ấn Độ phân hóa khi 304 giảm theo niken và 316 khan hiếm giữ vững
Đọc thêm
[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] Giá phế liệu thép không gỉ Ấn Độ phân hóa khi 304 giảm theo niken và 316 khan hiếm giữ vững
[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] Giá phế liệu thép không gỉ Ấn Độ phân hóa khi 304 giảm theo niken và 316 khan hiếm giữ vững
Thị trường thép phế liệu không gỉ của Ấn Độ diễn biến trái chiều trong tuần kết thúc vào ngày 1 tháng 10. Giá phế liệu 304 nội địa giảm nhẹ và giá chào nhập khẩu cũng theo xu hướng giảm, trong khi giá 316 giữ ổn định ở cả thị trường nội địa và nhập khẩu. Giá niken trên LME suy yếu gây áp lực lên tâm lý đối với 304, và người mua chỉ mua theo nhu cầu trước mắt khi giao dịch chậm lại trong kỳ lễ hội. Nguồn cung khan hiếm đã hạn chế đà giảm của 316. Về thu mua, thời gian xử lý ngắn sau khi chính phủ nới lỏng yêu cầu về Giấy chứng nhận kiểm định trước khi giao hàng (PSIC), cùng với chi phí nhập khẩu tăng thêm, tiếp tục hạn chế sự linh hoạt của các nhà máy. Một số nhà máy đang cân nhắc phôi, tấm slab và gang niken (NPI) như các lựa chọn thay thế phế liệu để quản lý chi phí đầu vào. Nhìn xa hơn, đề xuất của EU về việc hạn chế xuất khẩu phế liệu kim loại sang Ấn Độ theo Quy định vận chuyển chất thải (WSR) mới, nếu được thông qua, sẽ tiếp tục thu hẹp các lựa chọn nhập khẩu phế liệu của Ấn Độ. Trong ngắn hạn, phế liệu 304 chịu áp lực giảm nhẹ nếu niken vẫn yếu, trong khi 316 dự kiến sẽ duy trì ổn định chừng nào nguồn cung còn thắt chặt. Các diễn biến về PSIC và tính kinh tế tương đối của phôi và NPI sẽ là những yếu tố chính cần theo dõi.
12 giờ trước
【Tin nhanh | Metallus tăng phụ phí molypden tháng 10 cho thép 300M】
12 giờ trước
【Tin nhanh | Metallus tăng phụ phí molypden tháng 10 cho thép 300M】
Đọc thêm
【Tin nhanh | Metallus tăng phụ phí molypden tháng 10 cho thép 300M】
【Tin nhanh | Metallus tăng phụ phí molypden tháng 10 cho thép 300M】
Metallus công bố phụ phí nguyên liệu thô tháng 10 áp dụng từ ngày 1–30/10. Thành phần Mo cho thép 300M tăng 0,52% lên 15,176 USD/cwt, tương đương khoảng 334,57 USD/tấn thép, từ mức 15,098 USD/cwt, tức 332,85 USD/tấn. Tổng phụ phí niêm yết tăng 1,03% lên 45,054 USD/cwt. Phế liệu tăng lên 17,750 USD/cwt, trong khi phụ phí năng lượng riêng cho thép thanh và thép ống giảm từ 1,296 USD/cwt, khoảng 28,57 USD/tấn, xuống còn 0,050 USD/cwt, tức 1,10 USD/tấn.
12 giờ trước