8.1 Nhận định buổi sáng Hợp kim Nhôm Đúc SMM
Tương lai: Qua đêm, hợp đồng nhôm hợp kim 2609 giao dịch nhiều nhất mở cửa ở mức 23.510 nhân dân tệ/tấn, đạt đỉnh 23.595 nhân dân tệ/tấn, chạm đáy 23.445 nhân dân tệ/tấn, và đóng cửa ở mức 23.460 nhân dân tệ/tấn, tăng 75 nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,32%. Giá duy trì trên tất cả các đường trung bình động chính, với cấu trúc xu hướng tăng giá trung hạn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, áp lực bán đáng kể xuất hiện ở các mức cao hơn, và động lực tăng ngắn hạn suy yếu. Khối lượng giao dịch là 3.443 lô, giảm 1.663 lô so với phiên trước, thu hẹp đáng kể; số lượng hợp đồng mở là 18.687 lô, tăng 198 lô so với phiên trước, tăng nhẹ.
Chênh lệch giá giao ngay - tương lai hàng ngày: Theo dữ liệu SMM, vào ngày 7 tháng 8, giá giao ngay ADC12 của SMM về lý thuyết ở mức cao hơn 740 nhân dân tệ/tấn so với giá đóng cửa của hợp đồng nhôm hợp kim đúc giao dịch nhiều nhất (AD2609) lúc 10:15 sáng.
Chứng quyền hàng ngày: Dữ liệu SHFE cho thấy, vào ngày 7 tháng 8, tổng số chứng quyền đã đăng ký cho nhôm hợp kim đúc đạt 17.285 tấn, tăng 1 tấn so với ngày giao dịch trước đó. Theo khu vực, Thượng Hải nắm giữ 1.506 tấn, không đổi; Quảng Đông nắm giữ 1.342 tấn, không đổi; Giang Tô nắm giữ 3.806 tấn, không đổi; Chiết Giang nắm giữ 6.992 tấn, tăng 31 tấn; Trùng Khánh nắm giữ 2.854 tấn, giảm 30 tấn; Tứ Xuyên nắm giữ 785 tấn, không đổi.
Phế liệu Nhôm: Thứ Sáu tuần trước, giá nhôm giao ngay A00 của SMM đóng cửa ở mức 23.980 nhân dân tệ/tấn, tăng thêm 180 nhân dân tệ/tấn so với ngày giao dịch trước. Giá thị trường phế liệu nhôm trong nước hầu hết ổn định với thái độ chờ đợi, chỉ một số loại ở một số khu vực phía đông Trung Quốc nhích nhẹ. Về chênh lệch giá, tính đến ngày 7 tháng 8, chênh lệch giữa nhôm A00 và phế liệu ép đùn nhôm hỗn hợp không sơn ở Phật Sơn khoảng 2.310 nhân dân tệ/tấn, và giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm vụn căng khoảng 1.110 nhân dân tệ/tấn. Khi giá nhôm sơ cấp tiếp tục tăng, phế liệu nhôm thiếu động lực tăng, khiến các mức chênh lệch này nới rộng trở lại. Tuần này, phế liệu nhôm vụn căng định giá theo hàm lượng nhôm dự kiến sẽ chịu áp lực, bị đè nặng bởi giá nguyên liệu thô trì trệ và nhu cầu hạ nguồn yếu. Phạm vi giao dịch chính có khả năng xoay quanh 20.200-20.800 nhân dân tệ/tấn.
Silic kim loại: Vào ngày 7 tháng 8, SMM #553 thổi không oxy ở miền đông Trung Quốc ổn định; #553 thổi oxy tăng; #521, #441, #421, #421 dùng cho silicone và #3303 đều ổn định. Tại các khu vực như miền nam Trung Quốc, Quảng Đông, cảng Hoàng Phố và Thiên Tân, một số giá silicon đã tăng. Tại Côn Minh, Thượng Hải, Tân Cương và tây bắc Trung Quốc, giá silicon giữ ổn định.
Thị trường ngoài Trung Quốc: Về mặt nhập khẩu, giá chào ADC12 nước ngoài ở mức 3.050-3.190 USD/tấn, với mức lỗ nhập khẩu tức thời giữ ổn định ở khoảng 827 nhân dân tệ/tấn.
Tóm tắt: Thứ Sáu tuần trước, báo giá thị trường ADC12 chủ yếu củng cố ở mức cao, với giá SMM ADC12 tăng nhẹ 50 nhân dân tệ/tấn. Giá nhôm sơ cấp tiếp tục hỗ trợ chi phí, và các nhà sản xuất vẫn sẵn sàng giữ giá vững. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng cuối cùng vẫn yếu, tốc độ mua vào của hạ nguồn thận trọng, và sự cải thiện trong giao dịch thị trường bị hạn chế. Đà điều chỉnh giảm giá không đủ, trong khi đà tăng giá cũng bị hạn chế bởi nhu cầu. Trong ngắn hạn, thị trường ADC12 dự kiến tiếp tục củng cố trong bối cảnh vừa có hỗ trợ chi phí vừa có kháng cự từ nhu cầu.
[Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm về nguồn dữ liệu: Tất cả dữ liệu trừ thông tin công khai đều được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, trao đổi thị trường và các mô hình cơ sở dữ liệu độc quyền. Dữ liệu chỉ mang tính tham khảo và không cấu thành bất kỳ khuyến nghị hay tư vấn nào cho việc ra quyết định.]



