5.11 Bình luận buổi sáng về Hợp kim nhôm đúc SMM
Hợp đồng tương lai: Trong phiên giao dịch đêm thứ Sáu tuần trước, hợp đồng hợp kim nhôm 2607 mở cửa cao rồi đi xuống, giá mở cửa 23.040 NDT/tấn, giá cao nhất 23.070 NDT/tấn, giá thấp nhất 22.910 NDT/tấn, giá đóng cửa 22.950 NDT/tấn, giảm 75 NDT/tấn tương đương 0,33% so với giá thanh toán phiên trước. Biểu đồ trong phiên cho thấy xu hướng điều chỉnh dao động với sự ổn định nhẹ vào cuối phiên; khối lượng giao dịch 1.532 lô, khối lượng vị thế mở 11.933 lô, tăng 397 lô so với ngày trước đó, mô hình tổng thể cho thấy xu hướng giảm dao động.
Báo cáo chênh lệch cơ sở hàng ngày: Theo dữ liệu SMM, ngày 8/5, chênh lệch lý thuyết giữa giá giao ngay SMM ADC12 so với giá đóng cửa hợp đồng hợp kim nhôm đúc giao dịch nhiều nhất (AD2606) lúc 10:15 là 605 NDT/tấn.
Báo cáo chứng quyền kho hàng ngày: Dữ liệu SHFE cho thấy ngày 8/5, tổng chứng quyền kho đã đăng ký của hợp kim nhôm đúc là 33.250 tấn, giảm 181 tấn so với ngày giao dịch trước. Trong đó, Thượng Hải có tổng khối lượng đăng ký 1.999 tấn (không đổi so với ngày giao dịch trước); Quảng Đông 10.457 tấn (không đổi); Giang Tô 5.999 tấn (không đổi); Chiết Giang 9.657 tấn (giảm 30 tấn); Trùng Khánh 4.143 tấn (không đổi); Tứ Xuyên 995 tấn (giảm 151 tấn).
Phế liệu nhôm: Thứ Sáu tuần trước, giá nhôm A00 phục hồi 170 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước, giá phế liệu nhôm trên thị trường nhìn chung tăng theo 100-200 NDT/tấn. Phế liệu nhôm cắt nhỏ loại chặt (định giá theo hàm lượng nhôm) dao động trong khoảng chủ đạo 20.500-21.000 NDT/tấn (chưa thuế). Zorba nhập khẩu (cảng Ninh Ba) dao động trong khoảng 21.670-21.970 NDT/tấn (đã thuế). Về chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm, ngày 8/5, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm thanh đùn hỗn hợp không sơn tại Phật Sơn ghi nhận ở mức 2.570 NDT/tấn, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm cắt nhỏ loại chặt là 1.925 NDT/tấn. Về phía cung, nhịp độ xuất hàng của các điểm thu gom và giao nhận phế liệu nhôm sau kỳ nghỉ nhìn chung ổn định so với tháng 4; giá nguyên liệu biến động mạnh, các bãi phế liệu nhôm nhìn chung giữ hàng không bán và giữ giá vững; giá LME cao khiến các nhà nhập khẩu áp dụng chiến lược thận trọng, dự kiến lượng nhập khẩu tiếp theo sẽ giảm. Về phía cầu, mùa thấp điểm truyền thống đã bắt đầu, tỷ lệ vận hành của các nhà sản xuất nhôm tái chế giảm nhẹ, phân khúc phế liệu nhôm biến dạng mua theo nhu cầu và vận hành với tồn kho thấp, phân khúc phế liệu hợp kim nhôm gia công được hỗ trợ bởi tỷ lệ vận hành tấm/cuộn nhôm tái chế nhưng mức hỗ trợ hạn chế, nhu cầu hạ nguồn chủ yếu là nhu cầu cứng với tâm lý chờ đợi quan sát mạnh. Hiệu ứng mùa thấp điểm ở phía cầu tiếp tục, các doanh nghiệp nhôm tái chế hạ nguồn vẫn thận trọng và quan sát, mua hàng chủ yếu thông qua các đơn bổ sung tồn kho nhỏ theo nhu cầu cứng. Sự phân hóa giữa phế liệu nhôm biến dạng và phế liệu hợp kim nhôm gia công không thay đổi, tăng trưởng đơn hàng hạn chế, vẫn cần cảnh giác với rủi ro thị trường từ biến động giá nhôm và nguồn cung thắt chặt.
Kim loại silic: Sau kỳ nghỉ Quốc tế Lao động, thị trường silic có xu hướng mạnh lên, hợp đồng tương lai giao dịch nhiều nhất phá vỡ các mức kháng cự tăng trên 9.000 nhân dân tệ/tấn. Các nhà cung cấp silic thử tăng giá giao ngay nhiều lần với biên độ nhỏ, báo giá silic #553 khu vực Hoa Đông tăng trên 9.300 nhân dân tệ/tấn. Trên thị trường tương lai, hợp đồng SI2609 chạm mức cao trong phiên 9.180 nhân dân tệ/tấn vào thứ Năm. Sáng thứ Sáu, hợp đồng giao dịch nhiều nhất điều chỉnh về quanh mức 9.000-9.100 nhân dân tệ/tấn. Đợt tăng giá tương lai lần này chủ yếu được thúc đẩy bởi động lực vĩ mô và dòng vốn. Từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, các doanh nghiệp silic phòng hộ theo đợt khi giá tăng và tăng bán theo chênh lệch cơ sở, quyền sở hữu dần chuyển sang các nhà giao dịch tương lai-giao ngay, được hỗ trợ bởi nhu cầu cứng, giá giao ngay bị động theo xu hướng tăng. Từ góc độ ngành, tính chắc chắn của việc tăng nguồn cung kim loại silic trong tháng 6 tương đối cao, điều này kìm hãm tính bền vững của các đợt tăng giá tiếp theo. Đợt tăng giá lần này đã giảm bớt áp lực cho nhà máy ở mức độ nhất định, cuộc giằng co giữa bên mua và bên bán đã gia tăng, cần tập trung theo dõi sự chuyển đổi logic dòng vốn, thay đổi tâm lý vĩ mô và nhịp vận hành phía ngành.
Thị trường ngoài Trung Quốc: Hiện tại, báo giá ADC12 nhập khẩu vẫn ở vùng cao 3.320-3.400 USD/tấn, trong khi trung tâm giá giao ngay nội địa tiếp tục dịch chuyển xuống, khiến lỗ nhập khẩu tức thời mở rộng thêm lên trên 3.000 nhân dân tệ/tấn, cửa sổ nhập khẩu lý thuyết vẫn đóng.
Tóm tắt: Nhìn chung, giá ADC12 dự kiến tiếp tục trầm lắng trong biên độ hẹp, nhưng dư địa giảm có hạn. Về phía áp lực, nhu cầu hạ nguồn yếu và tồn kho xã hội tiếp tục tích lũy tạo thành áp lực kép, thị trường thiếu hỗ trợ tăng giá thực chất, động lực tăng giá không đủ; về phía hỗ trợ, chi phí nguyên liệu như phế liệu nhôm tiếp tục dao động ở mức cao, kết hợp với cửa sổ nhập khẩu đóng, tạo hỗ trợ đáy tương đối vững chắc cho giá giao ngay, doanh nghiệp có ý định nhượng giá lớn để xuất hàng rất hạn chế. Trong ngắn hạn, giá ADC12 vẫn chủ yếu dao động giảm.
[Tuyên bố miễn trừ nguồn dữ liệu: Dữ liệu ngoài thông tin công khai được lấy từ thông tin công khai, giao tiếp thị trường và mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, được SMM xử lý chỉ mang tính tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.]



