Xuất khẩu tấm/cuộn và dải đồng: Tăng mạnh 25,4% trong tháng 12, tăng trưởng ổn định cả năm, Gia công nhập khẩu chiếm ưu thế trong cơ cấu thương mại [Phân tích SMM]

Đã xuất bản: Jan 22, 2026 09:37
Nguồn: SMM
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tấm và dải đồng của Trung Quốc trong tháng 12 năm 2025 đạt 10.133,46 tấn, giảm 6,92% so với tháng trước nhưng tăng 25,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 1 đến tháng 12, tổng lượng xuất khẩu tấm và dải đồng đạt 125.489,3 tấn, tăng tích lũy 0,88% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tấm/dải đồng của Trung Quốc trong tháng 12 năm 2025 đạt tổng cộng 10.133,46 tấn, giảm 6,92% so với tháng trước nhưng tăng 25,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 1 đến tháng 12, xuất khẩu tích lũy tấm/dải đồng đạt 125.489,3 tấn, với mức tăng tích lũy 0,88% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong tháng 12, xuất khẩu tấm/dải đồng của Trung Quốc thể hiện ấn tượng, đạt tới 92 quốc gia và vùng lãnh thổ, với các thị trường xuất khẩu chính đều đạt tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái. Về thứ hạng, bức tranh phân khúc cao thay đổi: Việt Nam giữ vững vị trí dẫn đầu với kim ngạch xuất khẩu 1.380 tấn; thị trường Ấn Độ tiếp tục đà tăng trưởng ổn định, với tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái đạt 85,2%, vươn lên vị trí thứ hai; Nhật Bản, với mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái đáng kể 131,2%, đã leo lên thành công vị trí thứ ba. Từ góc độ tăng trưởng, bên cạnh Nhật Bản, Ai Cập và Mexico cũng nổi bật, với tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt đạt 391% và 101%, trở thành những điểm nhấn của xuất khẩu tấm/dải đồng trong tháng.

Nhìn từ góc độ cả năm, tổng kim ngạch xuất khẩu tấm/dải đồng của Trung Quốc năm 2025 đạt 125.500 tấn, tăng 0,88% so với cùng kỳ năm ngoái, với đặc điểm là tổng lượng ổn định và cơ cấu phân hóa. Mức độ tập trung thị trường xuất khẩu vẫn cao, với top mười quốc gia và vùng lãnh thổ cùng đóng góp hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, tạo thành nền tảng cốt lõi. Trong đó, Hàn Quốc xếp đầu với kim ngạch xuất khẩu 16.000 tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái; Ấn Độ theo sát, với kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh 42% so với cùng kỳ năm ngoái, trở thành động lực tăng trưởng then chốt; các thị trường như Malaysia, Đức và Indonesia cũng đạt mức tăng trưởng ổn định trong khoảng 21%–25%. Một số thị trường truyền thống có sự điều chỉnh đáng kể: xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh 34% so với cùng kỳ năm ngoái, Thái Lan giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái, và Việt Nam cũng ghi nhận mức thu hẹp nhẹ 7%, phản ánh tác động của biến động nhu cầu cục bộ và điều chỉnh thuế quan hải ngoại lên thị trường.

Chính sách hoàn thuế xuất khẩu đối với tấm/dải đồng đã chính thức bị hủy bỏ từ ngày 1 tháng 12 năm 2024, điều này có tác động tức thì đến cơ cấu xuất khẩu của ngành. So sánh số liệu hàng năm cho thấy trước khi điều chỉnh chính sách, Thương mại Thông thường là phương thức xuất khẩu chủ yếu, chiếm 70,3% vào năm 2024. Sau khi chính sách có hiệu lực, các doanh nghiệp nhanh chóng chuyển hướng sang các phương thức thương mại có kiểm soát như Gia công nguyên liệu nhập khẩu và Gia công nguyên liệu đặt trước, với tỷ trọng kết hợp tăng vọt lên 82,8% vào năm 2025, tăng mạnh 61,4 điểm phần trăm so với mức 21,4% của năm 2024. Trong đó, xuất khẩu theo hình thức Gia công nguyên liệu nhập khẩu tăng mạnh từ 17.900 tấn lên 84.200 tấn, và tỷ trọng của nó tăng vọt từ 14,4% lên 67,2%, trở thành chiến lược cốt lõi để các doanh nghiệp ứng phó với việc hủy bỏ hoàn thuế. Điều này phản ánh trực tiếp sự tối ưu hóa thích ứng trong cơ cấu thương mại của doanh nghiệp nhằm đáp ứng với điều chỉnh chính sách.

Xét về cơ cấu sản phẩm, xuất khẩu tấm/cuộn và dải đồng của Trung Quốc năm 2025 vẫn chủ yếu là dải đồng, với kim ngạch xuất khẩu đạt 81.700 tấn, chiếm 65% tổng xuất khẩu, và đạt mức tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trở thành danh mục cốt lõi thúc đẩy xuất khẩu; dải đồng bronze có thành tích đáng chú ý, với xuất khẩu tăng 13,2% so với cùng kỳ, thể hiện đà tăng trưởng mạnh mẽ; tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của các yếu tố như điều chỉnh chính sách xuất khẩu và cạnh tranh đồng nhất gay gắt, xuất khẩu dải đồng brass năm 2025 cho thấy xu hướng giảm, giảm 11,7% so với cùng kỳ. Ngoài ra, các danh mục tấm/cuộn và dải khác ghi nhận mức sụt giảm lên tới 33,8%, phản ánh sự phụ thuộc nhập khẩu vẫn tiếp diễn của các sản phẩm tấm/cuộn và dải đồng cao cấp của Trung Quốc.

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan, SMM biên soạn


(Mã HS: 74091110, 74091190, 74091900, 74092100, 74092900, 74093100, 74093900, 74094000, 74099000)



Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
1 giờ trước
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Đọc thêm
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant đặt mục tiêu sản xuất tinh quặng đầu tiên tại Hope & Gorob, Namibia vào tháng 9
Bezant Resources cho biết quá trình phát triển dự án đồng-vàng Hope & Gorob tại Namibia và Nhà máy Chế biến Kim loại Tsoaxaub liên quan vẫn đang đi đúng tiến độ hiện tại, với quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến được xử lý trong tháng 9 năm 2026. Sau khi hoàn tất các hoạt động chạy thử còn lại, việc xử lý quặng nguyên khai đầu tiên dự kiến sẽ tạo ra tinh quặng đầu tiên của dự án. Quặng từ hai vụ nổ mìn đầu tiên đã được lưu kho và sẵn sàng vận chuyển đến nhà máy chế biến, trong khi Bezant cho biết khối lượng quặng lưu kho đã vượt dự kiến ban đầu nhờ lượng quặng thu hồi bổ sung được ghi nhận trong Kiểm kê Khoáng sản của công ty. Công tác phát triển đang tiến triển tại cả mỏ và nhà máy chế biến. Việc xây dựng khu lán trại tại mỏ đã hoàn thành khoảng 75%, khoảng 75% cơ sở hạ tầng bề mặt đã được bàn giao và đang được lắp đặt, và toàn bộ đội xe khai thác và vận chuyển của Unitrans hiện đã có mặt tại công trường. Tại nhà máy Tsoaxaub, Bezant đã nhận được Chứng nhận Hoàn thành Kết cấu và Xây dựng C1, xác nhận hoàn thành các công trình kết cấu thép chính và công trình dân dụng, trong khi Chứng nhận Hoàn thành Cơ khí C2 dự kiến hoàn thành trong tháng 9. Hệ thống truyền động điện và thiết bị đo đạc đã hoàn thành khoảng 90%, với máy nghiền côn, thiết bị tuyển nổi, hạ tầng quặng đuôi và các bộ phận chế biến khác đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi chạy thử. Bezant cũng đã đẩy nhanh việc rà soát kế hoạch mở rộng Giai đoạn II, xem xét giá đồng, vàng và bạc hiện tại cũng như dự báo, cùng với khả năng đưa vào các khoáng hóa hàm lượng thấp trước đây từng được coi là không kinh tế. Công ty đang đánh giá chiến lược vận hành với tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn cho máy phân loại quặng, có thể tăng tỷ lệ thu hồi đồng, mặc dù có thể ở cấp hàm lượng tiền tinh quặng thấp hơn. Dựa trên Kiểm kê Khoáng sản hiện tại, Tài nguyên Khoáng sản JORC (2012) hiện có, công suất nhà máy tuyển nổi theo kế hoạch và kịch bản tỷ lệ thu hồi khối lượng cao hơn đang được xem xét, ban lãnh đạo tin rằng Hope & Gorob có tiềm năng hỗ trợ tuổi thọ mỏ khoảng 35 năm. Bezant chưa công bố mô hình kinh tế cập nhật bao gồm kịch bản tuổi thọ dài hơn này. Phân tích SMM: Mục tiêu xử lý vào tháng 9 đưa Hope & Gorob tiến gần đến giai đoạn chuyển từ phát triển mỏ sang sản xuất tinh quặng ban đầu, với quặng nguyên khai đã được lưu kho và hạ tầng chế biến chính sắp hoàn thành cơ khí. Tuổi thọ mỏ tiềm năng 35 năm và kế hoạch mở rộng Giai đoạn II vẫn đang trong quá trình rà soát kỹ thuật và kinh tế, và chưa nên được coi là kế hoạch phát triển cập nhật đã được xác nhận. Trong ngắn hạn, mốc quan trọng cần theo dõi sẽ là việc hoàn tất chạy thử nhà máy và xác nhận sản xuất tinh quặng đầu tiên trong tháng 9.
1 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
2 giờ trước
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
Đọc thêm
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
SMM dự kiến tỷ lệ vận hành anode đồng tổng thể sẽ tăng nhẹ so với tháng trước vào tháng 9
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] SMM dự kiến tỷ lệ vận hành chung của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc sẽ phục hồi 1,30 điểm phần trăm so với tháng trước lên 44,11% vào tháng 9 năm 2026. Trong đó, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp dự kiến giảm 7,19 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 57,88% do bảo trì tại một số doanh nghiệp và tăng công suất tinh luyện; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp dự kiến phục hồi 4,76 điểm phần trăm so với tháng trước lên 38,48%. (Chỉ tính cực dương đồng không tự sử dụng)
2 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
2 giờ trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Đọc thêm
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
Tỷ lệ vận hành anode đồng tháng 8 của Trung Quốc theo SMM giảm xuống 42,81% so với tháng trước
[SMM Tin nhanh cực dương đồng] Tháng 8/2026, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng Trung Quốc theo SMM đạt 42,81%, giảm 1,85 điểm phần trăm so với tháng trước. Xét theo nguyên liệu, tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng sơ cấp tăng 1,54 điểm phần trăm so với tháng trước lên 65,07%; tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp cực dương đồng thứ cấp giảm 3,23 điểm phần trăm so với tháng trước xuống 33,72% do nguồn cung phế liệu đồng đã bao thuế thắt chặt. (Chỉ tính cực dương đồng không tự tiêu thụ)
2 giờ trước
Xuất khẩu tấm/cuộn và dải đồng: Tăng mạnh 25,4% trong tháng 12, tăng trưởng ổn định cả năm, Gia công nhập khẩu chiếm ưu thế trong cơ cấu thương mại [Phân tích SMM] - Shanghai Metals Market (SMM)