4.3 Tóm tắt cuộc họp giao ban sáng SMM
Hợp đồng tương lai: Trong phiên đêm ngày 2/4, hợp đồng nhôm SHFE 2605 mở cửa ở mức 24.545 NDT/tấn, chạm mức cao nhất trong phiên 24.795 NDT/tấn và mức thấp nhất 24.500 NDT/tấn, cuối cùng đóng cửa ở mức 24.710 NDT/tấn, giảm 10 NDT/tấn so với giá đóng cửa trước đó, tương đương 0,04%. Phân tích kỹ thuật cho thấy các đường trung bình động ngắn hạn (SMA5: 24.740,71; SMA10: 24.630,53) đã quay đầu đi xuống, cho thấy động lực tăng giá ngắn hạn suy yếu. Các đường trung bình động trung hạn (SMA20: 24.483,63; SMA40: 24.431,25; SMA60: 24.371,46) vẫn duy trì trạng thái sắp xếp tăng giá, cho thấy hỗ trợ trung hạn vẫn còn. Trên biểu đồ nến khung 4 giờ, các cột đỏ MACD tiếp tục thu hẹp (DIFF=107,48, DEA=11,76, STICK=191,45), cho thấy động lực tăng giá tiếp tục suy yếu. Về vị thế mở, vị thế mở phiên đêm khoảng 236.000 lô, giảm 253 lô so với số liệu trước đó. Ngày 2/4, nhôm LME mở cửa ở mức 3.523,5 USD/tấn, đạt mức cao nhất trong phiên 3.525,5 USD/tấn và mức thấp nhất 3.428,0 USD/tấn, cuối cùng đóng cửa ở mức 3.465,5 USD/tấn, giảm 1,76% so với ngày trước đó. Về vị thế mở, vị thế mở phiên đêm khoảng 678.000 lô, giảm 5.318 lô so với số liệu trước đó.
Diễn biến vĩ mô: Tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 2, người phát ngôn Bộ Thương mại Hà Á Đông, khi trả lời câu hỏi về quan hệ kinh tế thương mại Trung - Mỹ, cho biết kể từ năm ngoái, dưới sự dẫn dắt chiến lược từ nhận thức chung quan trọng mà nguyên thủ hai nước đạt được, Trung Quốc và Mỹ đã trải qua 6 vòng tham vấn kinh tế thương mại và đạt được một loạt kết quả trong lĩnh vực kinh tế thương mại, qua đó bơm thêm sự ổn định và tính chắc chắn cho quan hệ kinh tế thương mại song phương cũng như kinh tế thế giới. (Tích cực ★) Theo CME FedWatch, xác suất Fed Mỹ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong tháng 4 là 0,5%, trong khi xác suất giữ nguyên lãi suất là 99,5%. Đến tháng 6, xác suất cắt giảm lãi suất lũy kế 25 điểm cơ bản là 6,0%, xác suất giữ nguyên lãi suất là 93,5%, và xác suất tăng lãi suất lũy kế 25 điểm cơ bản là 0,5%. (Giảm giá ★)
Yếu tố cơ bản: Trong tuần này, trong bối cảnh giá nhôm liên tục tăng, tâm lý giao dịch chung trên thị trường nhôm giao ngay có sự phân hóa, với tâm lý xuất hàng nhìn chung mạnh hơn tâm lý mua vào, và lượng hàng giao ngay lưu thông trên thị trường khá dồi dào. Mức chênh lệch giá giao ngay nhôm A00 của SMM nới rộng nhẹ so với tuần trước. Ở hạ nguồn, tỷ lệ vận hành hàng tuần của các doanh nghiệp gia công nhôm hạ nguồn hàng đầu Trung Quốc tăng trở lại 1,2 điểm phần trăm so với tuần trước, lên 65,2%. Nhìn chung, thị trường cho thấy đà phục hồi chậm và sự phân hóa giữa các phân khúc. Toàn ngành vẫn duy trì trạng thái “phục hồi chậm, mùa cao điểm nhưng kém kỳ vọng”, dư địa tăng thêm của tỷ lệ vận hành trong ngắn hạn còn hạn chế.
Thị trường nhôm nguyên sinh: Trong phiên sáng, hợp đồng nhôm 2604 trên SHFE dao động đi lên, với mặt bằng giá cao hơn ngày trước đó. Do giá nhôm ở mức cao, tâm lý xuất hàng mạnh hơn tâm lý mua vào, trong khi người dùng cuối hạ nguồn có nhu cầu mua yếu và lượng hàng sẵn có tương đối dồi dào. Giao dịch trên thị trường chủ yếu tập trung ở mức chiết khấu 10 NDT/tấn so với giá bình quân nhôm A00 của SMM. Hôm qua, chỉ số tâm lý xuất hàng tại thị trường Hoa Đông là 3,43, tăng 0,02 so với tháng trước; chỉ số tâm lý mua vào là 3,01, tăng 0,01 so với tháng trước. Giá nhôm kỳ hạn vẫn duy trì ở mức cao, và tại thị trường Trung Trung Quốc, giới thương nhân nhìn chung thiên về lạc quan hơn bi quan. Mặc dù đơn hàng hạ nguồn chưa đủ để hỗ trợ tích trữ hàng quá mức, các thương nhân vẫn tương đối tích cực mua vào nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro. Sau giai đoạn đầu, bên bán giảm xuất hàng, trong khi hoạt động mua ở mức giá cao tăng lên, kéo theo báo giá và giá giao dịch trên thị trường tăng liên tục. Cuối cùng, giá giao dịch thực tế tại thị trường Trung Trung Quốc dao động từ chiết khấu 40 NDT so với giá khu vực Trung Trung Quốc đến cộng giá 10 NDT so với giá khu vực này. Hôm qua, chỉ số tâm lý xuất hàng tại thị trường Trung Trung Quốc là 2,79, tăng 0,03 so với tháng trước; chỉ số tâm lý mua vào là 2,44, tăng 0,02 so với tháng trước.
Phế liệu nhôm:Hôm qua, giá nhôm nguyên sinh giao ngay tăng nhẹ 30 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước, trong khi thị trường phế liệu nhôm nhìn chung ổn định. Hôm qua, việc siết chặt quản lý theo chính sách "lập hóa đơn ngược" không thay đổi, chi phí tuân thủ trong khâu tái chế phế liệu nhôm vẫn ở mức cao, và nguồn hàng thực tế có hóa đơn vẫn tiếp tục khan hiếm. Về phía nhu cầu, mùa tiêu thụ cao điểm truyền thống “tháng 3 vàng, tháng 4 bạc” thấp hơn kỳ vọng; các doanh nghiệp tiêu thụ phế liệu như nhà sản xuất hợp kim thứ cấp ở hạ nguồn chủ yếu duy trì mua theo nhu cầu và vận hành tồn kho thấp. Giá cao, cùng với biến động mạnh kéo dài của giá nhôm, tiếp tục kìm hãm tâm lý thu mua của các doanh nghiệp tiêu thụ phế liệu, khiến giao dịch toàn thị trường nhìn chung trầm lắng và kéo dài tình trạng “mùa cao điểm nhưng không sôi động”. Dự kiến tuần tới, thị trường nhôm phế liệu sẽ duy trì ở vùng giá cao và dao động tăng; mức giá chủ đạo của nhôm phế liệu xé nhỏ loại căng (định giá theo hàm lượng nhôm) được dự báo quanh 20.800-21.300 NDT/tấn (chưa gồm thuế). Về phía cung, các chính sách quản lý như “xuất hóa đơn ngược” khó có khả năng được nới lỏng thực chất trong ngắn hạn; nguồn hàng tuân thủ quy định khan hiếm, cùng với tâm lý tiếp tục găm hàng của các bãi hàng, sẽ tiếp tục tạo lực đỡ cho giá. Về phía nhu cầu, sự phục hồi trong mùa cao điểm thấp hơn kỳ vọng, động lực cải thiện đơn hàng đầu cuối vẫn chưa đủ mạnh, và mô hình mua hàng đúng nhu cầu được dự báo sẽ tiếp diễn. Trong ngắn hạn, cần theo dõi sát tác động thực tế của xung đột địa chính trị Trung Đông đối với công suất các nhà máy nhôm toàn cầu, đơn hàng đầu cuối ở hạ nguồn và tiến độ triển khai chính sách xuất hóa đơn ngược, đồng thời cảnh giác với rủi ro giá nhôm biến động mạnh ở vùng cao.
Hợp kim nhôm thứ cấp:Trên thị trường kỳ hạn, trước phiên trưa hôm qua, hợp đồng hợp kim nhôm 2605 giao dịch sôi động nhất giảm trở lại sau khi tăng nhanh và dao động đi xuống. Sau khi mở cửa phiên sáng, giá tăng nhanh và chạm mức cao nhất trong ngày là 23.795 NDT/tấn, sau đó chịu áp lực và điều chỉnh giảm. Tiếp đó là nhịp giảm mạnh trong phiên, với giá lùi xuống mức thấp 23.525 NDT/tấn, rồi đi ngang ở vùng thấp trong buổi chiều. Tính đến hết phiên sáng, giá chốt ở 23.660 NDT/tấn, giảm 70 NDT so với giá thanh toán của ngày giao dịch trước, tương đương giảm 0,29%. Trên thị trường giao ngay, giá thị trường ADC12 hôm qua nhìn chung ổn định, chỉ có một số ít doanh nghiệp hạ nhẹ báo giá. Hôm qua, biên độ biến động giá nhôm thu hẹp, động lực từ phía chi phí khá hạn chế. Các doanh nghiệp nhìn chung thiếu sẵn sàng chủ động điều chỉnh giá, đa số giữ giá ổn định và duy trì tâm lý chờ đợi, quan sát. Về phía cầu, hoạt động của khâu hạ nguồn vẫn chưa cho thấy cải thiện rõ rệt, một số doanh nghiệp thậm chí giữ kỳ vọng tương đối thận trọng hoặc hơi bi quan đối với nhu cầu trong tháng 4. Trong bối cảnh hỗ trợ từ chi phí suy yếu và kỳ vọng nhu cầu phân hóa, giá ADC12 nhiều khả năng sẽ tiếp tục đi ngang trong biên độ hẹp trong ngắn hạn.
Tổng quan thị trường nhôm:Hiện nay, rủi ro địa chính trị vĩ mô trên thị trường nhôm toàn cầu tiếp tục leo thang, mức bù rủi ro vẫn ở ngưỡng cao và đã trở thành biến số cốt lõi chi phối tâm lý thị trường. Về cơ bản, phía cung ngoài Trung Quốc đã chịu tác động trực tiếp từ xung đột địa chính trị, khi các doanh nghiệp nhôm tại Trung Đông cắt giảm sản lượng. Gần đây, EGA của UAE và Alba của Bahrain lần lượt bị tấn công bằng tên lửa, khiến cơ sở sản xuất bị hư hại. Mức độ thiệt hại vẫn đang được đánh giá toàn diện, và thị trường nhìn chung kỳ vọng sẽ xuất hiện các đợt cắt giảm sản lượng quy mô lớn, thậm chí ngừng hoạt động, qua đó nới rộng kỳ vọng về khoảng thiếu hụt nguồn cung nhôm toàn cầu và tiếp tục làm gia tăng lo ngại về nguồn cung ngoài Trung Quốc. Về phía cầu, do tháng 4 là mùa cao điểm tiêu thụ truyền thống, tỷ lệ vận hành của khâu hạ nguồn tiếp tục tăng, và tỷ trọng nhôm lỏng được dự báo sẽ còn tăng thêm. Về tồn kho, bước sang đầu tháng 4, dù lượng xuất kho nhôm thỏi tại Trung Quốc trong tuần qua đã phần nào cải thiện, điểm ngoặt tồn kho nhôm thỏi của Trung Quốc vẫn chưa xuất hiện như kỳ vọng. Hiện tại, tồn kho nhôm thỏi tại các khu vực tiêu thụ lớn của Trung Quốc có sự phân hóa rõ rệt, nhưng trong mùa cao điểm truyền thống, diễn biến và kỳ vọng đối với tỷ trọng nhôm lỏng tại Trung Quốc vẫn tương đối lạc quan. Cùng với sự cộng hưởng từ nhu cầu cứng của hạ nguồn và kỳ vọng xuất khẩu thuận lợi, điểm ngoặt xu hướng của tồn kho xã hội nhôm tại Trung Quốc sẽ lùi đến khoảng giữa tháng 4. Nhìn chung, trọng tâm cốt lõi của thị trường giai đoạn tới là liệu các nhà máy nhôm chủ chốt tại Trung Đông có tiếp tục mở rộng cắt giảm sản lượng hay không. Nếu việc cắt giảm sản lượng tiếp tục được hiện thực hóa, điều này sẽ tạo động lực tăng mạnh cho giá nhôm toàn cầu. Cùng với sự hỗ trợ dự kiến từ việc nhu cầu mùa cao điểm tại Trung Quốc dần được giải phóng, giá nhôm được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì xu hướng điều chỉnh ở vùng cao trong ngắn hạn.



