Vào khoảng ngày 23 tháng 5 năm 2026, dữ liệu xuất nhập khẩu các sản phẩm liên quan đến chuỗi ngành công nghiệp coban và pin lithium trong tháng 4 được công bố tập trung. Dữ liệu cho thấy lượng nhập khẩu spodumene của Trung Quốc trong tháng 4 đạt 758.000 tấn hiện vật, giảm 9,5% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Về nhập khẩu lithium carbonate, Trung Quốc nhập khẩu 32.650 tấn lithium carbonate trong tháng 4, tăng 9% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước....... SMM đã tổng hợp dữ liệu xuất nhập khẩu nguyên liệu pin, chi tiết như sau:
Thượng nguồn
Tinh quặng lithium
Trong tháng 4 năm 2026, lượng nhập khẩu spodumene của Trung Quốc đạt 758.000 tấn hiện vật, giảm 9,5% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước, tương đương khoảng 63.000 tấn LCE. Dữ liệu hải quan cho thấy lượng nhập khẩu spodumene tháng 4 giảm so với tháng 3, đạt 758.000 tấn hiện vật. Theo quốc gia nguồn, lượng quặng từ Úc cập cảng trở lại mức tương đối bình thường, với hơn 350.000 tấn cập cảng trong tháng, tăng 38,9% so với tháng trước; các lô hàng trước đó từ Zimbabwe cập cảng trong tháng đạt 102.000 tấn, giảm 9,2% so với tháng trước; Nam Phi và Nigeria có sự sụt giảm nhất định về lượng cập cảng hàng tháng, trong khi quặng từ Mali gần như không có lượng cập cảng đáng kể trong tháng do ảnh hưởng của lịch trình vận chuyển. Đáng chú ý, bột quặng spodumene do Brazil bán vào đầu năm 2026 đã cập cảng trong tháng, thúc đẩy lượng cập cảng từ quốc gia này tăng đáng kể.
Ngoài ra, sau khi SMM sàng lọc, lượng quặng nhập trong tháng tương đương 63.000 tấn LCE. Trong số quặng nhập, tinh quặng lithium chiếm 67%, tỷ trọng giảm nhẹ so với tháng trước, chủ yếu do ngoài Úc, quặng từ các quốc gia nguồn khác có chứa một số quặng phẩm vị tương đối thấp.

Nguồn: Hải quan Trung Quốc, tổng hợp bởi SMM
Về giá giao ngay tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc), theo báo giá giao ngay của SMM, giá giao ngay tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc) biến động tăng trong tháng 4. Tính đến ngày 30 tháng 4, giá giao ngay tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc) tăng lên 2.540 USD/tấn, tăng 221 USD/tấn so với mức giá cuối tháng 3 là 2.313 USD/tấn, mức tăng 9,81%.
Theo SMM, giá lithium carbonate tiếp tục tăng trong tháng 4, giá tinh quặng spodumene tăng theo giá muối lithium, với mức tăng vượt qua cả lithium carbonate, khiến các doanh nghiệp không tích hợp mua tinh quặng spodumene bên ngoài chịu lỗ, khả năng sinh lời giao ngay vẫn trong trạng thái thâm hụt. Trong tháng 4, lưu thông giao ngay quặng tinh lepidolite tương đối nới lỏng. Đồng thời, khi giá lithium carbonate tăng, phí gia công cho các doanh nghiệp không tích hợp cũng tăng theo, duy trì biên lợi nhuận nhất định cho hoạt động gia công và giúp các doanh nghiệp này đạt được lợi nhuận giao ngay.
Tuy nhiên, gần đây, giá quặng tinh spodumene điều chỉnh đồng bộ với biến động giá lithium carbonate, và trung tâm giá giao dịch dịch chuyển xuống. Theo khảo sát mới nhất của SMM, bị ảnh hưởng bởi tin đồn tái sản xuất tại các mỏ Giang Tây trong tuần này, giá giao dịch tương lai và giao ngay lithium carbonate giảm, kéo trung tâm giao dịch tổng thể đi xuống thêm. Hiện tại, các mỏ lithium có ý định xuất hàng yếu, giao dịch chủ yếu tập trung giữa thương nhân và người mua. Tồn kho quặng lithium tại cảng tiếp tục giảm.Trong thời gian tới, cần tiếp tục chú ý đến khả năng nguồn cung quặng lithium thắt chặt do tỷ lệ vận hành cao trong ngành hóa chất lithium, và giá quặng lithium được kỳ vọng sẽ duy trì tốt.
Lithium Carbonate
Theo số liệu hải quan, Trung Quốc nhập khẩu 32.650 tấn lithium carbonate trong tháng 4, tăng 9% so với tháng trước và 15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 21.000 tấn nhập từ Chile (chiếm 65% tổng nhập khẩu), 9.555 tấn từ Argentina (29%), và 1.100 tấn từ Indonesia (3%). Từ tháng 1 đến tháng 4, tổng nhập khẩu lithium carbonate lũy kế của Trung Quốc đạt 116.000 tấn, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 4, Trung Quốc xuất khẩu 370 tấn lithium carbonate, giảm 17% so với tháng trước và 50% so với cùng kỳ năm trước. Từ tháng 1 đến tháng 4, tổng xuất khẩu lithium carbonate lũy kế của Trung Quốc đạt 1.886 tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4, Trung Quốc nhập khẩu 17.942 tấn lithium sulfate, tăng 9% so với tháng trước và 296% so với cùng kỳ năm trước. Từ tháng 1 đến tháng 4, tổng nhập khẩu lithium sulfate lũy kế của Trung Quốc đạt 58.900 tấn, tăng 121% so với cùng kỳ năm trước.
Theo báo giá giao ngay của SMM, giá lithium carbonate giao ngay nhìn chung có xu hướng tăng trong tháng 4. Tính đến ngày 30/4, giá lithium carbonate giao ngay tăng lên 177.000 nhân dân tệ/tấn, tăng 14.000 nhân dân tệ/tấn hay 8,59% so với mức 163.000 nhân dân tệ/tấn vào ngày 31/3.
Theo phân tích của SMM, giá lithium carbonate tại Trung Quốc trong tháng 4 theo xu hướng hình chữ "V" giảm trước tăng sau, với giá trung bình tháng tăng 6% so với tháng trước. Trong mười ngày đầu tháng, những xáo trộn địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng tâm lý ngại rủi ro toàn cầu, khiến giá kim loại màu và lithium carbonate biến động giảm. Giai đoạn giữa đến cuối tháng, được thúc đẩy bởi lệnh cấm xuất khẩu của Zimbabwe, việc gia hạn giấy phép khai thác mỏ tại Giang Tây và chi phí tăng, giá bắt đầu phục hồi và biến động tăng, với trung tâm giá cuối tháng dịch chuyển lên đáng kể. Hoạt động mua hàng thượng nguồn và hạ nguồn vẫn trì trệ, biên độ giá tâm lý giữa hai bên ngày càng mở rộng theo từng tuần. Nhà sản xuất thượng nguồn giữ giá cứng và hạn chế bán ra, duy trì mức chào giá cao; người mua hạ nguồn chỉ mua theo nhu cầu tức thời, mức giá tâm lý tập trung ở 155.000-175.000 NDT/tấn, chỉ bổ sung hàng tồn khi giá giảm nhanh. Trong tháng 4, giá giao ngay lithium carbonate cấp pin giảm xuống khoảng 155.500 NDT/tấn trong mười ngày đầu, sau đó phục hồi liên tục lên 177.000 NDT/tấn vào cuối tháng.
Tính đến ngày 29/5, giá giao ngay lithium carbonate cấp pin trong nước được báo ở mức 174.000-181.000 NDT/tấn, giá trung bình 177.500 NDT/tấn.
Lithium Hydroxide
Theo dữ liệu hải quan, tháng 4/2026, Trung Quốc nhập khẩu 6.689 tấn lithium hydroxide, tăng 9% so với tháng trước và gấp 4 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 2.252 tấn nhập từ Hàn Quốc, chiếm 34% tổng lượng nhập khẩu; 1.706 tấn từ Indonesia, chiếm khoảng 25%; và 40% còn lại đến từ Úc và Chile.
Trong tháng 4, Trung Quốc xuất khẩu 5.535 tấn lithium hydroxide, tăng 76% so với tháng trước và tăng 31% so với cùng kỳ, trong đó 3.915 tấn xuất sang Hàn Quốc và 864 tấn sang Nhật Bản.
Sản lượng vật liệu cathode ternary ngoài Trung Quốc tiếp tục trì trệ, hạn chế khả năng tiêu thụ lithium hydroxide tại thị trường ngoài Trung Quốc, dẫn đến tình trạng dư thừa nhẹ tại các thị trường này, từ đó mở rộng chênh lệch giá giữa thị trường trong nước và quốc tế. Trong khi đó, do các nhà cung cấp ngoài Trung Quốc trước đó đã ký hợp đồng cung ứng dài hạn với các thương nhân trong nước, họ có thể liên tục đẩy lithium hydroxide vào thị trường Trung Quốc. Dưới tác động tổng hợp của các yếu tố này, mô hình thương mại lithium hydroxide tiếp tục đảo chiều (chuyển từ xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng).


Nguồn: Hải quan Trung Quốc, tổng hợp bởi SMM
Vật liệu pin
LiPF6
Theo số liệu Hải quan Trung Quốc, trong tháng 4/2026, tổng lượng xuất khẩu LiPF6 lũy kế của Trung Quốc đạt khoảng 868 tấn, giảm khoảng 80,9% so với tháng trước, trong khi lượng nhập khẩu lũy kế khoảng 96 tấn.

Về phía xuất khẩu, lượng xuất khẩu LiPF6 của Trung Quốc trong tháng 4/2026 đạt khoảng 868 tấn, giảm khoảng 80,9% so với tháng 3 và giảm khoảng 33,2% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, do chính sách hoàn thuế VAT xuất khẩu LiPF6 chính thức bị bãi bỏ từ ngày 1/4/2026, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh xuất khẩu trước trong tháng 3, đồng thời các doanh nghiệp chất điện giải ngoài Trung Quốc đã tích trữ một lượng hàng tồn kho nhất định, dẫn đến lượng xuất khẩu của Trung Quốc sang nhiều quốc gia đích chính giảm so với tháng trước trong tháng 4. Xuất khẩu sang Ba Lan đạt 337,5 tấn (giảm khoảng 80,4% so với tháng trước), Hàn Quốc 81,804 tấn (giảm khoảng 92,56% so với tháng trước), Cộng hòa Séc 150 tấn (giảm khoảng 67,43% so với tháng trước), và Mỹ 101,908 tấn (giảm khoảng 61,7% so với tháng trước). Chỉ có xuất khẩu sang Nhật Bản tăng — 191,37 tấn (tăng khoảng 50,77% so với tháng trước).
Graphit nhân tạo
Trong tháng 4/2026, lượng nhập khẩu graphit nhân tạo của Trung Quốc đạt 757 tấn, tăng 12,4% so với tháng trước và giảm 32,9% so với cùng kỳ năm trước. Về giá nhập khẩu bình quân, trong tháng 4/2026, giá nhập khẩu bình quân graphit nhân tạo tại Trung Quốc là 75.941 nhân dân tệ/tấn, tăng 23,1% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 4/2026, tổng lượng xuất khẩu graphit nhân tạo của Trung Quốc đạt 45.895 tấn, tăng 22,3% so với tháng trước nhưng giảm 21% so với cùng kỳ năm trước. Về giá xuất khẩu bình quân, trong tháng 4/2026, giá xuất khẩu bình quân graphit nhân tạo của Trung Quốc là 9.214 nhân dân tệ/tấn, giảm 6,6% so với tháng trước nhưng tăng 0,26% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu từ năm tỉnh xuất khẩu hàng đầu tăng 21% so với tháng trước, trong đó hai tỉnh có lượng xuất khẩu tăng trên 35% so với tháng trước, và một tỉnh khác ghi nhận mức tăng 20% so với tháng trước.
Về thị trường nhập khẩu, đơn hàng từ các doanh nghiệp pin động lực hạ nguồn tại Trung Quốc dần phục hồi trong tháng 4. Kết hợp với tình trạng thắt chặt công suất giao ngay theo giai đoạn của các doanh nghiệp vật liệu anode hàng đầu, nhu cầu bổ sung hàng tồn kho được giải phóng, thúc đẩy lượng nhập khẩu graphit nhân tạo phục hồi từ mức yếu so với tháng trước. Tuy nhiên, khối lượng nhập khẩu vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do ngành anode của Trung Quốc có công suất tổng thể dồi dào với nguồn cung vẫn dư thừa, khả năng tự cung tự cấp trong nước tiếp tục được củng cố, và sự phụ thuộc của ngành vào nguyên liệu thô và thành phẩm nhập khẩu giảm dần đều.
Graphit vảy
Trong tháng 4/2026, nhập khẩu graphit vảy của Trung Quốc đạt tổng cộng 3.178 tấn, giảm 19% so với tháng trước và giảm 45% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn dữ liệu: Hải quan Trung Quốc, SMM
Trong tháng 4/2026, xuất khẩu graphit vảy của Trung Quốc đạt tổng cộng 4.093 tấn, giảm 50% so với tháng trước và giảm 54% so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường xuất khẩu, chính sách hoàn thuế xuất khẩu graphit vảy đã chính thức bị hủy bỏ trong tháng này, trực tiếp thu hẹp biên lợi nhuận của các doanh nghiệp ngoại thương và làm giảm đáng kể ý muốn xuất khẩu tổng thể. Đồng thời, tốc độ phê duyệt giấy phép xuất khẩu graphit vảy chậm lại, cản trở quy trình giao hàng ngoại thương. Kết hợp với nhu cầu tiêu thụ cuối yếu ngoài Trung Quốc, nhiều yếu tố tiêu cực cộng hưởng trực tiếp dẫn đến sự sụt giảm mạnh khối lượng xuất khẩu của ngành.
Thị trường nhập khẩu cũng tiếp tục suy yếu. Hàng hóa ban đầu dành cho xuất khẩu chuyển sang lưu thông tiêu thụ nội địa, với nguồn cung trong nước Trung Quốc ngày càng dồi dào. Sự nhiệt tình của thị trường đối với hoạt động mua sắm nhập khẩu không đủ, cuối cùng khiến nhập khẩu cũng giảm theo trong tháng này.
Quặng phosphat
Ngày 20/5/2026, theo dữ liệu hải quan, nhập khẩu quặng phosphat của Trung Quốc đạt tổng cộng 207.000 tấn trong tháng 4/2026. Nhập khẩu tháng 4 tăng 13,5% so với 182.000 tấn trong tháng 3. Tổng giá trị nhập khẩu tháng 4 đạt 19,741 triệu USD, tăng 35,7% so với tháng trước từ mức 14,552 triệu USD trong tháng 3. Đơn giá trung bình đạt 95,5 USD/tấn, tăng 19,6% so với mức 79,9 USD/tấn trong tháng 3.

Bình luận nhập khẩu: Trong tháng 5, xuất khẩu quặng phosphat của Ai Cập đối mặt với tình trạng "thắt chặt chính sách và nhu cầu suy yếu." Ngày 13/5, Bộ Dầu mỏ và Tài nguyên Khoáng sản Ai Cập tuyên bố sẽ không ký thêm bất kỳ hợp đồng xuất khẩu quặng phosphat mới nào. Trước đó, Thủ tướng Ai Cập Mustafa Madbouly đã tuyên bố rõ ràng tại cuộc họp ngày 10/5 rằng chính phủ đang thúc đẩy chuyển đổi từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như phân bón phosphat. Các hợp đồng dài hạn đã ký sẽ không bị ảnh hưởng. Điều này dự kiến sẽ đẩy giá nhập khẩu tăng và có thể ảnh hưởng đến nhập khẩu.
Cobalt
Sản phẩm trung gian thủy luyện cobalt
Trong tháng 4/2026, nhập khẩu sản phẩm trung gian thủy luyện cobalt của Trung Quốc đạt khoảng 1.247 tấn theo hàm lượng thực, giảm 26% so với tháng trước và giảm 98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu từ CHDC Congo đạt khoảng 945 tấn theo hàm lượng thực, giảm 43% so với tháng trước và giảm 98% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4/2026, giá nhập khẩu trung bình sản phẩm trung gian thủy luyện cobalt của Trung Quốc là 17.187 USD/tấn theo hàm lượng thực, tăng 2,63% so với tháng trước. Được biết, hầu hết các công ty khai thác đã hoàn tất phê duyệt hạn ngạch quý 4/2025, nhưng việc phê duyệt hạn ngạch quý 1/2026 lại chậm lại do các vấn đề thủ tục như lấy mẫu, kiểm định. Ngoài ra, năng lực vận tải tại CHDC Congo khan hiếm. Các đội vận tải, dựa trên cân nhắc kinh tế, ưu tiên vận chuyển các sản phẩm dầu mỏ và hóa chất đang thiếu hụt trong sản xuất, tiếp đến là các kim loại khác có chu kỳ quay vòng ngắn hơn, và cobalt trong nhóm kim loại màu xếp cuối cùng, nghĩa là cobalt gặp vấn đề nghiêm trọng về năng lực vận tải. Bị hạn chế bởi các yếu tố trên, các công ty khai thác chủ yếu tập trung xây dựng hàng tồn kho trên đường vận chuyển và chưa sắp xếp đặt tàu tập trung, việc các lô lớn sản phẩm trung gian cập cảng có thể tiếp tục bị trì hoãn.

Cobalt thô
Trong tháng 4/2026, nhập khẩu cobalt thô của Trung Quốc đạt khoảng 1.334 tấn, tăng 39% so với tháng trước và tăng 59% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4, nhập khẩu cobalt tinh chế chủ yếu đến từ Indonesia, Nga và Madagascar, với lượng nhập khẩu lần lượt là 462 tấn, 457 tấn và 182 tấn. Nguyên nhân chính khiến lượng nhập khẩu tăng trong tháng này là do các nhà luyện kim trong nước thiếu nguyên liệu sản phẩm trung gian nên đã nhập khẩu phiến cobalt và bánh cobalt để hòa tan lại nhằm đảm bảo sản xuất bình thường. Về giá nhập khẩu trung bình, giá nhập khẩu trung bình cobalt thô của Trung Quốc trong tháng 4/2026 là 52.724 USD/tấn, tăng 4,72% so với tháng trước. Lượng nhập khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 4/2026 đạt tổng cộng 5.916 tấn, tăng 153% so với cùng kỳ năm trước.

Về phía xuất khẩu, xuất khẩu cobalt thô của Trung Quốc trong tháng 4/2026 đạt khoảng 218 tấn, giảm 47% so với tháng trước và giảm 95% so với cùng kỳ năm trước. Theo quốc gia, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ giảm đáng kể, với lượng xuất khẩu sang Mỹ trong tháng 4 đạt 35 tấn, giảm 87,5% so với tháng trước. Nguyên nhân chính là nhu cầu cobalt tinh luyện cấp hợp kim tại Mỹ suy giảm trong tháng 4, và cobalt tinh luyện thương hiệu ngoài Trung Quốc đã đủ đáp ứng nhu cầu khu vực, một số nhà giao dịch cobalt tinh luyện đã chuyển hướng điểm đến từ Mỹ quay lại Trung Quốc. Về giá xuất khẩu bình quân, giá xuất khẩu bình quân cobalt thô của Trung Quốc trong tháng 4/2026 đạt 54.590 USD/tấn, tăng 5,80% so với tháng trước. Lượng xuất khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 4/2026 đạt 1.792 tấn, giảm 76% so với cùng kỳ năm trước.

![[Lý Tưởng: Robot hình người vẫn còn tụt hậu ít nhất 3 năm so với xe điện]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/cTxNb20251217171727.jpg)

