Tổng cục Thống kê: GDP quý I tăng 5% so với cùng kỳ! Kinh tế quốc dân khởi đầu thuận lợi với tăng trưởng sản xuất công nghiệp tăng tốc

Đã xuất bản: Apr 16, 2026 10:23

Theo ước tính sơ bộ của Tổng cục Thống kê Quốc gia (NBS), GDP của Trung Quốc trong quý I đạt tổng cộng 33.419,3 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước theo giá trị thực, tăng tốc 0,5 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Theo ngành, giá trị gia tăng của ngành thứ nhất đạt 1.194,1 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,8% so với cùng kỳ; giá trị gia tăng của ngành thứ hai đạt 11.613,5 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,9%; và giá trị gia tăng của ngành thứ ba đạt 20.611,7 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,2%. Tính theo quý, GDP quý I tăng 1,3% so với quý trước.

Kinh tế quốc dân đạt khởi đầu tốt đẹp trong quý I

Trong quý I, dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc với đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, các địa phương và ban ngành đã triển khai sâu rộng các quyết định và kế hoạch của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quốc vụ viện, đẩy mạnh thực hiện các chính sách vĩ mô chủ động và hiệu quả hơn, nỗ lực ổn định việc làm, doanh nghiệp, thị trường và kỳ vọng. Việc bồi dưỡng và phát triển lực lượng sản xuất chất lượng mới được đẩy nhanh. Tăng trưởng sản xuất và cung ứng phục hồi, nhu cầu thị trường tiếp tục cải thiện, tình hình việc làm nhìn chung ổn định, giá cả thị trường phục hồi nhẹ, phát triển chất lượng cao tiến triển theo hướng mới và tốt hơn, kinh tế quốc dân đạt khởi đầu tốt đẹp, sức bền và sức sống phát triển được thể hiện rõ hơn.

Theo ước tính sơ bộ, GDP của Trung Quốc trong quý I đạt tổng cộng 33.419,3 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước theo giá trị thực, tăng tốc 0,5 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Theo ngành, giá trị gia tăng của ngành thứ nhất đạt 1.194,1 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,8% so với cùng kỳ; giá trị gia tăng của ngành thứ hai đạt 11.613,5 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,9%; và giá trị gia tăng của ngành thứ ba đạt 20.611,7 tỷ nhân dân tệ, tăng 5,2%. Tính theo quý, GDP quý I tăng 1,3% so với quý trước.

I. Sản xuất nông nghiệp diễn biến tốt, ngành chăn nuôi nhìn chung ổn định

Trong quý I, giá trị gia tăng của nông nghiệp (trồng trọt) tăng 3,7% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lúa mì vụ đông duy trì ổn định, tình trạng cây giống tiếp tục cải thiện, công tác cày cấy và chuẩn bị vụ xuân diễn ra thuận lợi. Theo khảo sát ý định gieo trồng toàn quốc, diện tích gieo trồng lương thực dự kiến năm nay nhìn chung ổn định, diện tích lúa gạo cơ bản không đổi và diện tích ngô ổn định với mức tăng nhẹ. Trong quý I, sản lượng thịt lợn, thịt bò, thịt cừu và thịt gia cầm đạt tổng cộng 26,62 triệu tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng thịt lợn và thịt gia cầm tăng lần lượt 4,2% và 9,3%, trong khi sản lượng thịt bò và thịt cừu giảm lần lượt 1,4% và 2,0%; sản lượng sữa tăng 3,4%, sản lượng trứng giảm 3,1%. Trong quý I, số lượng lợn giết mổ đạt 200,26 triệu con, tăng 2,8% so với cùng kỳ; tổng đàn lợn cuối quý đạt 423,58 triệu con, tăng 1,5%.

II. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp tăng tốc, ngành sản xuất thiết bị và công nghệ cao tăng trưởng nhanh

Trong quý I, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định của Trung Quốc tăng 6,1% so với cùng kỳ, tăng tốc 1,1 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Theo ba lĩnh vực chính, giá trị gia tăng ngành khai khoáng tăng 6,0% so với cùng kỳ, ngành chế tạo tăng 6,4%, ngành sản xuất và cung ứng điện, nhiệt, khí đốt và nước tăng 4,3%. Giá trị gia tăng ngành sản xuất thiết bị tăng 8,9% so với cùng kỳ, ngành sản xuất công nghệ cao tăng 12,5%, vượt tốc độ tăng trưởng chung của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định lần lượt 2,8 và 6,4 điểm phần trăm. Theo loại hình kinh tế, giá trị gia tăng của doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối tăng 4,8% so với cùng kỳ; doanh nghiệp cổ phần tăng 6,6%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan tăng 3,9%; doanh nghiệp tư nhân tăng 6,1%. Theo sản phẩm, sản lượng thiết bị in 3D, pin lithium-ion và robot công nghiệp tăng lần lượt 54,0%, 40,8% và 33,2% so với cùng kỳ. Trong tháng 3, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định tăng 5,7% so với cùng kỳ và tăng 0,28% so với tháng trước. Trong tháng 3, chỉ số PMI ngành chế tạo đạt 50,4%, tăng 1,4 điểm phần trăm so với tháng trước; chỉ số kỳ vọng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt 53,4%. Trong tháng 1–2, tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định trên toàn quốc đạt 1.024,6 tỷ nhân dân tệ, tăng 15,2% so với cùng kỳ.

III. Ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh, dịch vụ hiện đại có động lực mạnh mẽ

Trong quý I, giá trị gia tăng của ngành dịch vụ tăng 5,2% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành cho thuê và dịch vụ kinh doanh, truyền thông tin, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính, vận tải, kho bãi và bưu chính, lưu trú và ăn uống tăng lần lượt 12,2%, 10,6%, 6,5%, 4,3% và 4,3%. Trong tháng 3, chỉ số sản xuất ngành dịch vụ toàn quốc tăng 5,0% so với cùng kỳ. Trong đó, chỉ số sản xuất của ngành truyền thông tin, phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin, cho thuê và dịch vụ kinh doanh, và dịch vụ tài chính tăng lần lượt 11,8%, 10,1% và 6,7%. Trong tháng 1–2, doanh thu hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ trên quy mô quy định tăng 7,4% so với cùng kỳ. Trong tháng 3, chỉ số hoạt động kinh doanh ngành dịch vụ đạt 50,2%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với tháng trước; chỉ số kỳ vọng hoạt động kinh doanh ngành dịch vụ đạt 54,8%. Trong đó, chỉ số hoạt động kinh doanh của ngành vận tải đường sắt, viễn thông, phát thanh, truyền hình và truyền dẫn vệ tinh, dịch vụ tiền tệ và tài chính, và bảo hiểm nằm trong vùng thịnh vượng tương đối cao trên 55,0%.

IV. Doanh số bán lẻ thị trường phục hồi, doanh số bán lẻ dịch vụ tăng trưởng nhanh

Trong quý I, tổng doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng đạt 12.769,5 tỷ nhân dân tệ, tăng 2,4% so với cùng kỳ, tăng tốc 0,7 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Theo địa điểm kinh doanh, doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng khu vực thành thị đạt 11.057,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 2,3% so với cùng kỳ; doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng khu vực nông thôn đạt 1.712,1 tỷ nhân dân tệ, tăng 3,1%. Theo loại hình tiêu dùng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 11.307,2 tỷ nhân dân tệ, tăng 2,2%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.462,3 tỷ nhân dân tệ, tăng 4,2%. Doanh số hàng thiết yếu và một số hàng nâng cấp tăng trưởng tương đối nhanh. So với cùng kỳ, doanh thu bán lẻ lương thực, dầu ăn và thực phẩm, quần áo, giày dép, mũ nón, hàng dệt kim, thiết bị thông tin liên lạc, và vàng bạc trang sức của các đơn vị trên quy mô quy định tăng lần lượt 10,0%, 9,3%, 20,8% và 12,6%. Trong tháng 3, tổng doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng tăng 1,7% so với cùng kỳ và tăng 0,14% so với tháng trước. Trong quý I, doanh thu bán lẻ dịch vụ tăng 5,5% so với cùng kỳ, tốc độ tăng trưởng tương đương cả năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ dịch vụ thông tin liên lạc, du lịch, tư vấn và cho thuê, văn hóa, thể thao và giải trí tăng trưởng tương đối nhanh. Trong quý I, doanh thu bán lẻ trực tuyến hàng hóa và dịch vụ toàn quốc đạt 4.977,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 8,0% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ trực tuyến hàng hóa đạt 3.161,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 7,5%, chiếm 24,8% tổng doanh thu bán lẻ hàng tiêu dùng; doanh thu bán lẻ trực tuyến dịch vụ đạt 1.816 tỷ nhân dân tệ, tăng 8,8%.

V. Đầu tư tài sản cố định tăng trưởng ổn định, đầu tư cơ sở hạ tầng tăng tương đối nhanh

Quý I, đầu tư tài sản cố định toàn quốc (không bao gồm hộ nông thôn) đạt 10.270,8 tỷ NDT, tăng 1,7% so với cùng kỳ, so với mức giảm 3,8% của cả năm trước; nếu không tính đầu tư phát triển bất động sản, đầu tư tài sản cố định toàn quốc tăng 4,8%. Theo lĩnh vực, đầu tư cơ sở hạ tầng tăng 8,9% so với cùng kỳ, đầu tư sản xuất chế tạo tăng 4,1%, đầu tư phát triển bất động sản giảm 11,2%. Diện tích sàn nhà thương mại bán ra trên toàn quốc đạt 195,25 triệu m², giảm 10,4% so với cùng kỳ; doanh số bán nhà thương mại xây mới đạt 1.726,2 tỷ NDT, giảm 16,7%. Theo ngành, đầu tư ngành thứ nhất tăng 15,9% so với cùng kỳ, đầu tư ngành thứ hai tăng 5,8%, đầu tư ngành thứ ba giảm 1,0%. Đầu tư tư nhân giảm 2,2% so với cùng kỳ, mức giảm thu hẹp 4,2 điểm phần trăm so với cả năm trước; nếu không tính đầu tư phát triển bất động sản, đầu tư tư nhân tăng 1,3%. Đầu tư vào ngành công nghệ cao tăng 7,4% so với cùng kỳ, trong đó đầu tư vào sản xuất máy tính và thiết bị văn phòng, sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ và máy bay, dịch vụ thông tin lần lượt tăng 28,3%, 19,0% và 20,9%. Tháng 3, đầu tư tài sản cố định (không bao gồm hộ nông thôn) tăng 0,52% so với tháng trước.

VI. Thương mại hàng hóa tăng trưởng nhanh, cơ cấu thương mại tiếp tục được tối ưu hóa

Quý I, tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 11.838 tỷ NDT, tăng 15,0% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 6.846,7 tỷ NDT, tăng 11,9%; nhập khẩu đạt 4.991,3 tỷ NDT, tăng 19,6%. Xuất nhập khẩu thương mại thông thường tăng 9,0% so với cùng kỳ. Xuất nhập khẩu với các nước tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường tăng 14,2%. Xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tư nhân tăng 16,2%, chiếm 57,3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Xuất khẩu sản phẩm cơ điện tăng 18,3%. Tháng 3, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.104,6 tỷ NDT, tăng 9,2% so với cùng kỳ.

VII. Mức tăng giá tiêu dùng mở rộng, giá sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi

Quý I, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn quốc tăng 0,9% so với cùng kỳ, mức tăng mở rộng 0,4 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Theo danh mục, giá thực phẩm, thuốc lá, rượu và ăn uống ngoài tăng 0,5% so với cùng kỳ, quần áo tăng 1,8%, nhà ở giảm 0,2%, đồ gia dụng và dịch vụ tăng 2,3%, giao thông và thông tin liên lạc giảm 1,1%, giáo dục, văn hóa và giải trí tăng 1,0%, y tế tăng 1,8%, hàng hóa và dịch vụ khác tăng 14,1%. Trong nhóm thực phẩm, thuốc lá, rượu và ăn uống ngoài, giá thịt lợn giảm 11,3%, giá lương thực giảm 0,3%, giá hoa quả tươi tăng 4,3%, giá rau tươi tăng 7,6%. CPI lõi, không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Tháng 3, CPI toàn quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ và giảm 0,7% so với tháng trước.

Quý I, giá xuất xưởng sản phẩm công nghiệp toàn quốc giảm 0,6% so với cùng kỳ, mức giảm thu hẹp 1,5 điểm phần trăm so với quý IV năm trước. Trong đó, tháng 3 tăng 0,5% so với cùng kỳ, so với mức giảm 0,9% của tháng trước; tăng 1,0% so với tháng trước. Quý I, giá mua nguyên vật liệu của nhà sản xuất công nghiệp toàn quốc giảm 0,5% so với cùng kỳ. Trong đó, tháng 3 tăng 0,8% so với cùng kỳ, so với mức giảm 0,7% của tháng trước; tăng 1,2% so với tháng trước.

VIII. Tình hình việc làm nhìn chung ổn định, tỷ lệ thất nghiệp khảo sát thành thị không thay đổi so với cùng kỳ

Quý I, tỷ lệ thất nghiệp khảo sát thành thị bình quân toàn quốc là 5,3%, không thay đổi so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3, tỷ lệ thất nghiệp khảo sát thành thị toàn quốc là 5,4%. Tỷ lệ thất nghiệp khảo sát đối với lao động có hộ khẩu tại địa phương là 5,4%; tỷ lệ thất nghiệp khảo sát đối với lao động không có hộ khẩu tại địa phương là 5,3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khảo sát đối với lao động không có hộ khẩu tại địa phương thuộc hộ khẩu nông nghiệp là 5,7%. Tỷ lệ thất nghiệp khảo sát thành thị tại 31 thành phố lớn là 5,3%. Số giờ làm việc bình quân hàng tuần của người lao động trong các doanh nghiệp toàn quốc là 48,1 giờ. Cuối quý I, tổng số lao động nông thôn di cư làm việc ngoài quê hương là 188,38 triệu người, tăng 0,2% so với cùng kỳ.

IX. Thu nhập hộ gia đình tiếp tục tăng trưởng, thu nhập cư dân nông thôn tăng nhanh hơn cư dân thành thị

Quý I, thu nhập khả dụng bình quân đầu người toàn quốc đạt 12.782 NDT, tăng danh nghĩa 4,9% so với cùng kỳ, tăng thực tế 4,0% sau khi loại trừ yếu tố giá cả. Theo nơi cư trú thường xuyên, thu nhập khả dụng bình quân đầu người của cư dân thành thị đạt 16.549 NDT, tăng danh nghĩa 4,2% và tăng thực tế 3,2% so với cùng kỳ; thu nhập khả dụng bình quân đầu người của cư dân nông thôn đạt 7.433 NDT, tăng danh nghĩa 6,1% và tăng thực tế 5,4% so với cùng kỳ. Theo nguồn thu nhập, thu nhập tiền lương, thu nhập ròng từ kinh doanh, thu nhập ròng từ tài sản và thu nhập ròng từ chuyển nhượng bình quân đầu người toàn quốc lần lượt tăng danh nghĩa 4,9%, 6,6%, 1,6% và 5,1%. Thu nhập khả dụng trung vị bình quân đầu người toàn quốc đạt 10.433 NDT, tăng danh nghĩa 5,0% so với cùng kỳ.

Nhìn chung, các chỉ số vĩ mô chủ yếu phục hồi trong quý I, động lực mới tăng trưởng nhanh, kinh tế quốc dân đạt được khởi đầu tốt đẹp. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp và biến động, tình trạng mất cân bằng trong nước giữa cung mạnh cầu yếu vẫn nổi bật, nền tảng cho sự cải thiện kinh tế vẫn cần được củng cố. Trong giai đoạn tiếp theo, cần kiên trì lấy Tư tưởng Tập Cận Bình về Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới làm kim chỉ nam, kiên quyết thực hiện các quyết sách và kế hoạch của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện, quán triệt đầy đủ và trung thực quan niệm phát triển mới, đẩy nhanh xây dựng cục diện phát triển mới, tập trung thúc đẩy phát triển chất lượng cao, duy trì phương châm tổng thể ổn định để tiến bước, thực hiện các chính sách vĩ mô chủ động và hiệu quả hơn, không ngừng mở rộng nhu cầu nội địa và tối ưu hóa nguồn cung, cải thiện nguồn lực gia tăng và kích hoạt tài sản hiện có, nỗ lực ổn định việc làm, doanh nghiệp, thị trường và kỳ vọng, nhằm không ngừng củng cố và mở rộng đà phát triển ổn định và tích cực của nền kinh tế.

Đọc thêm:

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Hợp đồng thiếc SHFE được giao dịch nhiều nhất mở cửa giảm nhẹ trong phiên đêm rồi duy trì xu hướng dao động, thị trường giao ngay cho thấy mức độ giằng co nhất định [Bản tin sáng thiếc SMM]
33 phút trước
Hợp đồng thiếc SHFE được giao dịch nhiều nhất mở cửa giảm nhẹ trong phiên đêm rồi duy trì xu hướng dao động, thị trường giao ngay cho thấy mức độ giằng co nhất định [Bản tin sáng thiếc SMM]
Read More
Hợp đồng thiếc SHFE được giao dịch nhiều nhất mở cửa giảm nhẹ trong phiên đêm rồi duy trì xu hướng dao động, thị trường giao ngay cho thấy mức độ giằng co nhất định [Bản tin sáng thiếc SMM]
Hợp đồng thiếc SHFE được giao dịch nhiều nhất mở cửa giảm nhẹ trong phiên đêm rồi duy trì xu hướng dao động, thị trường giao ngay cho thấy mức độ giằng co nhất định [Bản tin sáng thiếc SMM]
[Bản Tin Sáng SMM: Hợp Đồng Thiếc Giao Dịch Nhiều Nhất Trên SHFE Mở Cửa Giảm Nhẹ Trong Phiên Đêm Và Sau Đó Duy Trì Xu Hướng Dao Động, Thị Trường Giao Ngay Thể Hiện Mức Độ Bế Tắc Nhất Định]
33 phút trước
Tâm lý vĩ mô cải thiện, giá kẽm trung tâm LME tăng [Biên bản họp sáng SMM]
43 phút trước
Tâm lý vĩ mô cải thiện, giá kẽm trung tâm LME tăng [Biên bản họp sáng SMM]
Read More
Tâm lý vĩ mô cải thiện, giá kẽm trung tâm LME tăng [Biên bản họp sáng SMM]
Tâm lý vĩ mô cải thiện, giá kẽm trung tâm LME tăng [Biên bản họp sáng SMM]
[Biên bản họp sáng SMM: Tâm lý vĩ mô cải thiện, giá kẽm LME tăng] Qua đêm, kẽm LME mở cửa ở mức 3.400 USD/tấn. Đầu phiên, giá giảm nhẹ xuống dưới 3.398 USD/tấn, sau đó phe mua tăng vị thế mở, kẽm LME dao động tăng liên tục, chạm trên 3.439 USD/tấn trong phiên tối. Cuối cùng đóng cửa tăng ở mức 3.420,5 USD/tấn, tăng 20,5 USD/tấn, tương đương 0,6%. Khối lượng giao dịch giảm còn 9.595 lô, và vị thế mở tăng 1.972 lô lên 219.000 lô.
43 phút trước
Các yếu tố cơ bản của chì cho thấy sự đan xen giữa các yếu tố tăng giá và giảm giá, giá chì ngắn hạn duy trì biến động mạnh [Biên bản họp sáng về chì của SMM]
45 phút trước
Các yếu tố cơ bản của chì cho thấy sự đan xen giữa các yếu tố tăng giá và giảm giá, giá chì ngắn hạn duy trì biến động mạnh [Biên bản họp sáng về chì của SMM]
Read More
Các yếu tố cơ bản của chì cho thấy sự đan xen giữa các yếu tố tăng giá và giảm giá, giá chì ngắn hạn duy trì biến động mạnh [Biên bản họp sáng về chì của SMM]
Các yếu tố cơ bản của chì cho thấy sự đan xen giữa các yếu tố tăng giá và giảm giá, giá chì ngắn hạn duy trì biến động mạnh [Biên bản họp sáng về chì của SMM]
45 phút trước