Theo dữ liệu mới được công bố bởi Cục Thống kê Quốc gia (NBS), năm 2024, các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định toàn quốc đạt tổng lợi nhuận 7,431,05 tỷ nhân dân tệ, giảm 3,3% so với năm trước.
Năm 2024, trong các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định, các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát đạt tổng lợi nhuận 2,139,73 tỷ nhân dân tệ, giảm 4,6% so với năm trước; các doanh nghiệp cổ phần đạt tổng lợi nhuận 5,616,64 tỷ nhân dân tệ, giảm 3,6%; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan đạt tổng lợi nhuận 1,763,79 tỷ nhân dân tệ, giảm 1,7%; các doanh nghiệp tư nhân đạt tổng lợi nhuận 2,324,58 tỷ nhân dân tệ, tăng 0,5%.
Năm 2024, ngành khai thác mỏ đạt tổng lợi nhuận 1,127,19 tỷ nhân dân tệ, giảm 10,0% so với năm trước; ngành sản xuất đạt tổng lợi nhuận 5,514,11 tỷ nhân dân tệ, giảm 3,9%; ngành sản xuất và cung cấp điện, nhiệt, khí đốt và nước đạt tổng lợi nhuận 789,76 tỷ nhân dân tệ, tăng 14,5%.
Năm 2024, lợi nhuận của các ngành chính như sau: ngành sản xuất và cung cấp điện, nhiệt tăng 17,8% so với năm trước; ngành luyện kim và cán kim loại màu tăng 15,2%; ngành khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên tăng 14,2%; ngành dệt may tăng 3,4%; ngành sản xuất máy tính, truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 3,4%; ngành sản xuất thiết bị chuyên dụng tăng 1,1%; ngành sản xuất thiết bị tổng hợp tăng 0,7%. Trong khi đó, ngành chế biến thực phẩm nông nghiệp và phụ phẩm giảm 0,2%; ngành sản xuất máy móc và thiết bị điện giảm 2,0%; ngành sản xuất ô tô giảm 8,0%; ngành sản xuất nguyên liệu hóa học và sản phẩm hóa học giảm 8,6%; ngành khai thác và rửa than giảm 22,2%; ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 45,1%; ngành luyện kim và cán kim loại đen giảm 54,6%; và ngành chế biến dầu mỏ, than và nhiên liệu khác chuyển từ lãi sang lỗ so với năm trước.
Năm 2024, các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định đạt doanh thu hoạt động 137,77 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 2,1% so với năm trước; chi phí hoạt động đạt 117,31 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 2,5%; tỷ suất lợi nhuận doanh thu hoạt động là 5,39%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với năm trước.
Cuối năm 2024, tổng tài sản của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định đạt 178,54 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 4,5% so với cuối năm trước; tổng nợ phải trả đạt 102,71 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 4,8%; tổng vốn chủ sở hữu đạt 75,83 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 4,2%; tỷ lệ nợ trên tài sản là 57,5%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cuối năm trước.
Cuối năm 2024, các khoản phải thu của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định đạt 26,06 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 8,6% so với cuối năm trước; hàng tồn kho thành phẩm đạt 6,44 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 3,3%.
Năm 2024, chi phí trên 100 nhân dân tệ doanh thu hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định là 85,16 nhân dân tệ, tăng 0,36 nhân dân tệ so với năm trước; chi phí trên 100 nhân dân tệ doanh thu hoạt động là 8,59 nhân dân tệ, giảm 0,01 nhân dân tệ so với năm trước.
Cuối năm 2024, doanh thu hoạt động trên 100 nhân dân tệ tài sản của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định là 79,5 nhân dân tệ, giảm 2,7 nhân dân tệ so với cuối năm trước; doanh thu hoạt động bình quân đầu người là 1,861 triệu nhân dân tệ, tăng 69 nghìn nhân dân tệ so với cuối năm trước; số ngày quay vòng hàng tồn kho thành phẩm là 19,2 ngày, tăng 0,1 ngày so với cuối năm trước; thời gian thu hồi bình quân các khoản phải thu là 64,1 ngày, tăng 3,9 ngày so với cuối năm trước.
Ngoài ra, Yu Weining, nhà thống kê từ Phòng Công nghiệp của NBS, cho biết khi giải thích dữ liệu lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp rằng ngành sản xuất công nghệ cao thể hiện động lực phát triển mạnh mẽ. Năm 2024, động lực công nghiệp mới tăng tốc, thúc đẩy lợi nhuận của ngành sản xuất công nghệ cao tăng 4,5% so với năm trước, cao hơn 7,8 điểm phần trăm so với mức trung bình của các doanh nghiệp công nghiệp trên quy mô quy định, và đóng góp 0,8 điểm phần trăm vào tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp này. Trong lĩnh vực sản xuất thiết bị cao cấp, lợi nhuận của ngành sản xuất thiết bị quang điện tử và ngành sản xuất tàu vũ trụ và tên lửa đẩy tăng lần lượt 66,9% và 13,4% so với năm trước. Trong lĩnh vực thông minh, lợi nhuận của ngành sản xuất thiết bị bay không người lái thông minh, ngành sản xuất thiết bị thông minh trên xe và ngành sản xuất thiết bị thông minh đeo được tăng lần lượt 164,7%, 112,8% và 37,7%. Trong lĩnh vực sản xuất xanh, ngành sản xuất pin lithium-ion tăng 48,5% . Trong các ngành công nghệ cao khác, lợi nhuận của ngành sản xuất mạch điện tử, ngành sản xuất thiết bị chuyên dụng cho định vị, đo đạc, khí tượng và hàng hải, và ngành sản xuất thiết bị quang học tăng lần lượt 30,3%, 26,3% và 13,2%, duy trì xu hướng tăng trưởng nhanh.
![[Phân tích SMM] Cuộc chơi cung-cầu trên thị trường Cobalt, xu hướng sản phẩm phân hóa, hỗ trợ chi phí thúc đẩy triển vọng tích cực](https://imgqn.smm.cn/usercenter/OjVzX20251217171727.jpg)


